Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Thực trạng và giải pháp tăng cường an sinh xã hội cho lao động nữ nông thôn

21/11/2012

Nước ta hiện vẫn là quốc gia có tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn khá lớn (60,5 triệu người), chiếm gần 70% dân số cả nước. Dân số trong độ tuổi lao động từ giữa những năm 2000 là 50% và tăng lên 64% vào năm 2010. Việt Nam đã kết thúc thời kỳ “cơ cấu dân số trẻ” và bước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” khi tỷ số phụ thuộc chung nhỏ hơn hoặc bằng 50. Cơ hội “vàng” sẽ thực sự trở thành nguồn nhân lực “vàng” cho sự phát triển kinh tế - xã hội nếu có các chính sách hợp lý để tận dụng tối đa trí tuệ, sức lao động vào sản xuất. Ngược lại, nó sẽ gia tăng áp lực về giải quyết việc làm, về tích lũy để đảm bảo An sinh xã hội (ASXH) khi Việt Nam bước vào giai đoạn “dân số già” trong thời gian tới.


Thực trạng lao động, việc làm của phụ nữ nông thôn

Nước ta hiện vẫn là quốc gia có tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn khá lớn (60,5 triệu người), chiếm gần 70% dân số cả nước. Dân số trong độ tuổi lao động từ giữa những năm 2000 là 50% và tăng lên 64% vào năm 2010. Việt Nam đã kết thúc thời kỳ “cơ cấu dân số trẻ” và bước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”1 khi tỷ số phụ thuộc chung nhỏ hơn hoặc bằng 50. Cơ hội “vàng” sẽ thự sự trở thành nguồn nhân lực “vàng” cho sự phát triển kinh tế - xã hội nếu có các chính sách hợp lý để tận dụng tối đa trí tuệ, sức lao động vào sản xuất. Ngược lại, nó sẽ gia tăng áp lực về giải quyết việc làm, về tích lũy để đảm bảo An sinh xã hội (ASXH) khi Việt Nam bước vào giai đoạn “dân số già” trong thời gian tới.

Năm 2010, dân số nữ nông thôn là 30,6 triệu người, chiếm 50,4% tổng dân số khu vực nông thôn, giảm 4 điểm phần trăm so với năm 2007 (50,8%). Dân số trong độ tuổi lao động khu vực nông thôn năm 2010 là 38 triệu người, trong đó nữ là 18,5 triệu, bằng 48,6%, giảm 5 điểm phần trăm trong giai đoạn 2007 – 2010 (49,1%).

Những năm qua, sự tăng trưởng kinh tế đã tạo nhiều cơ hội việc làm cho cả lao động nam và nữ, tuy nhiên tốc độc gia tăng của lực lượng lao động nam luôn cao hơn nữ giới. Năm 2010, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nam ở khu vực nông thôn là 89,1% và lao động nữ là 84,5%. Điều này cho thấy xu hướng lao động nữ ít tham gia hoạt động kinh tế hơn so với lao động nam do tham gia các hoạt động phi kinh tế như nội trợ gia đình trong khu vực nông thôn.
Trình độ của người dân khu vực nông thôn thấp hơn đáng kể so với khu vực thành thị, đặc biệt, trình độ của nhóm lao động nữ nông thôn còn thấp hơn so với khu vực nông thôn và cả nước. Năm 2010, trong nhóm dân số trong độ tuổi lao động khu vực nông thôn, có tới 88,6% nam giới và 92 % nữ giới chưa qua đào tạo (tỷ lệ tương ứng ở khu vực thành thị là 67,1% và 74,2%). Số phụ nữ nông thôn có tình độ cao đẳng, đại học trở lên chỉ đạt 1,4% (so với 10,4% của phụ nữ thành thị).

Về việc làm, có tới gần 1/3 việc làm của phụ nữ là lao động gia đình (so với 16,1% tỷ lệ nam giới nông thôn). Phụ nữ nông thôn vẫn là nhóm yếu thế nhất trong nhu cầu tìm việc làm, điều này dẫn đến sự chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng giới trong xã hội và có xu hướng ngày càng gia tăng trong khu vực nông thôn.

An sinh xã hội cho dân cư nông thôn nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng

Những rủi ro về thiên tai, dịch bệnh, ốm đau và những rủi ro trong cuộc sống đối với dân cư nông thôn nói chung và phụ nữ nong thôn nói riêng còn nhiều và có xu hướng gia tăng do tính chất và tác động của toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu và môi trường sống bị hủy hoại và các tác động kinh tế.

Trẻ em nông thôn, đặc biệt là trẻ em gái có nguy cơ bị suy dinh dưỡng, mắc bệnh/dị tật bẩm sinh cao do người mẹ khi mang thai không được chăm sóc y tế đầy đủ, bị ảnh hưởng của chất độc da cam, môi trường độc hại, dịch bệnh,… Những gia đình nghèo, hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ, phụ nữ đơn thân, … thường khó khăn hơn trong chống chọi với thiên tai, khắc phục hậu qủa, khôi phục sản xuất và đời sống. Việc sử dụng quá mức phân bón, thuốc trừ sâu độc hại, chất lượng kém đã gây tác hại lớn lên sức khỏe người lao động đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
Nguồn thu nhập chính của dân cư nông thôn nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng là từ nông nghiệp với năng suất lao động thấp, không ổn định. Hầu hết người dân nông thôn không có lương hưu hoặc các nguồn trợ cấp xã hội khác.

Một bộ phận dân cư nông thôn, vùng sâu, vùng xa khó hòa nhập cộng đồng do những rào cản về ngôn ngữ, văn hóa, địa bàn chia cắt, cơ sở hạ tầng kém phát triển, khó tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản. Một bộ phận phụ nữ có chồng, con hoặc bản thân bị vướng vào tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, HIV, AIDS, cờ bạc, rượu chè, trộm cắp,… tỷ lệ ly hôn, phụ nữ gặp bất hạnh trong hôn nhân tăng nhanh chóng là hậu quả của những biến đổi xã hội phức tạp ở nông thôn thời gian qua. Định kiến giới, sự phân biệt đối xử về giới, bạo lực gia đình còn xảy ra. Phụ nữ nông thôn di cư ra đô thị thường làm việc trong khu vực phi chính thức, điều kiện làm việc kém, thu nhập thấp, không có hợp đồng lao động, không có BHXH.

Tăng cường an sinh xã hội cho dân cư và phụ nữ nông thôn

Nghị quyết số 15-NQ/TƯ ngày 01 tháng 6 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020": khẳng định, ASXH bao gồm các hệ thống, chính sách và chương trình do Nhà nước, các đối tác xã hội và tư nhân thực hiện nhằm hỗ trợ, nâng cao năng lực của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong quản lý và kiểm soát các rủi ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, rủi ro do thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế dẫn đến giảm hoặc bị mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản.

An sinh xã hội gồm 4 cấu phần cơ bản: chính sách hỗ trợ người dân có việc làm, tạo thu nhập và tham gia thị trường lao động và giảm nghèo, chính sách BHXH; các chính sách trợ giúp xã hội, và đảm bảo tiếp cận dịch vụ cơ bản tối thiểu. Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra là tác động của cải cách, tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển sang mô hình tăng trưởng mới và biến đổi khí hậu đối với rủi ro trong khu vực nông thôn, tình trạng nghèo tương đối và sự gia tăng bất bình đẳng của dân cư nông thôn so với thành thị; chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động, vấn đề di dân nông thôn – đô thị; mối liên hệ giữa nghèo đói, việc làm và phát triển nguồn thị trường lao động nông thôn.

Trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Đồng thời, đặt ra các giải pháp nhằm tăng cường An sinh xã hội nông thôn gồm:

- Hỗ trợ lao động nghèo, người thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn, người có thu nhập ổn định và tham gia thị trường lao động: Tăng cường hiệu quả các chương trình tín dụng ưu đãi các chương trình tín dụng ưu đãi dể phát triển ngành nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ nong thôn. Mở rộng đối tượng vay vốn đối với kinh tế trang trại, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động thuộc hộ nghèo ở nông thôn; đầu tư phát triển mạng lưới trung tâm dịch vụ việc làm trong khu vực nông thôn; tăng cường chất lượng nguồn nhân lực nông thôn, ưu tiên các cơ sở dạy nghề của các doanh nghiệp để thu hút lao động sau khi tốt nghiệp; tập trung vào các giải pháp gắn bó với đặc thù của các vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

- Mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp: thí điểm các chính sách hỗ trợ giai đoạn 2011 – 2015, xây dựng chính sách hỗ trợ một phần phí tham gia BHXH tự nguyện đối với lao động thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, nông dân có mức thu nhập từ trung bình trở xuống; tiếp tục hoàn thiện Luật BHXH, đặc biệt là BHXH tự nguyện để nâng cao khả năng tham gia của người dân nông thôn; từng bước mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp để đảm bảo mục tiêu an sinh xã hội.

- Mở rộng BHYT: tăng cường tuyên truyền, khuyến khích đối với 40% dân số nông thôn hiện nay chưa tham gia BHYT theo quy định của Luật BHYT; tập trung chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, phụ nữ mang thai, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, các xã thuộc vùng khó khăn.

- Tổng kết mô hình tiến tới xây dựng chính sách hỗ trợ nông dân mua bảo hiểm nông nghiệp: nhằm đảm bảo đời sống cho người dân tiếp tục duy trì và sản xuất.

- Chính sách trợ giúp xã hội: Mở rộng đối tượng gồm giảm dần tuổi hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên cho người già không có lương hưu hoặc trợ cấp BHXH; bổ sung nhóm đối tượng nghèo kinh niên, nâng cao mức hỗ trợ tối thiểu; xây dựng chính sách hỗ trợ tiền mặt thường xuyên đối với trẻ em nghèo trong độ tuổi đi học.

- Tổ chức các chương trình làm việc tạm thời: cho lao động bị thất nghiệp hoặc thiếu việc làm ở nông thôn, lao động thuộc các hộ nghèo hoặc cận nghèo.

- Nâng cao hiệu quả thực hiện giảm nghèo giai đoạn 2011 – 2015

- Tăng cường dịch vụ xã hội cơ bản: nâng cao chất lượng triểu khai các dự án phát triển cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ ở các xã vùng khó khăn, dự án hộ nghèo, tập trung các giải pháp đảm bảo chỗ ở ổn định cho dân cư các xã vùng khó khăn, vùng bị tác động bởi thiên tai, nước biển dâng do biến đổi khí hậu

- Khuyến khích phát triển các hình thức ASXH cộng đồng nhằm huy động nguồn lực, tăng cường năng lực tự an sinh của cộng đồng dân cư, tăng cường hợp tác công tư trong việc cung cấp dịch vụ ASXH.

- Quan tâm tới các vấn đề giới còn tồn tại, đảm bảo việc lồng ghép giới vào các chính sách ASXH để cả phụ nữ và nam giới được bình đẳng trong tiếp cận, tham gia và thụ hưởng các chính sách này.

Ts. Nguyễn Thị Lan Hương

Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội




Xem