Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Phát huy truyền thống vẻ vang, toàn ngành ra sức thi đua phấn đấu hoàn thiện nhiệm vụ năm 2012

25/09/2012

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công,Trung ương Đảng, Bác Hồ và Chính phủ đã đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo lĩnh vực lao động – thương binh và xã hội. Ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Tuyên cáo “về việc thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ Cộng hòa”, trong 13 Bộ đầu tiên của Chính phủ nước ta đã có những Bộ phụ trách công tác lao động, thương binh và xã hội. Cùng với quá trình vận động và phát triển của sự nghiệp cách mạng, tháng 2 năm 1987, kế thừa và phát huy chức năng nhiệm vụ của các Bộ và cơ quan tiền thân trước đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội được thành lập.


Là một lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta, lĩnh vực lao động, người có công và xã hội mang những đặc trưng cơ bản: tổng hợp chính trị - kinh tế - xã hội – quốc phòng – an ninh, trực tiếp phục vụ hàng triệu người và gia đình có công với cách mạng, hàng chục triệu lao động và hàng triệu người thuộc các đối tượng xã hội khó khăn, yếu thế. Sự vận động của quá trình phát triển của công tác lao động, người có công và xã hội trong từng thời kỳ cách mạng trực tiếp tác động đến sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế, trật tự - an toàn xã hội, góp phần đắc lực thực hiện chương trình, chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
, cả nước tập trung thực hiện nhiệm vụ “chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”. Những chính sách đầu tiên về lao động – việc làm, về khuyến khích tăng gia, sản xuất, bảo vệ quyền lợi người lao động; về chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ đã được ban hành và đi vào cuộc sống.

Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), chính sách lao động thời ký này đã tập trung huy động sức dân, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Phong trào thi đưa ái quốc đã vận động hàng vạn công nhân, tri thức rời thành phố về các vùng tự do, khu căn cứ cách mạng để tham gia kháng chiến. Hàng chục vạn thanh niên, nhất là bần cố trung nông đã tòng quân giết giặc. Cả nước huy động trên 1,1 triệu lượt người và hàng trăm triệu ngày công lao động cùng với phương tiện vận chuyển thô sơ phục vụ các chiến dịch, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Trong lĩnh vực thương binh, liệt sỹ, mặc dù thời kỳ này cách mạng nước ta gặp muôn vàn khó khắn nhưng Đảng, Chính phủ đã được biệt quan tâm: tháng 2/1947 Hồ Chủ Tịch đã ký sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sỹ”. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên quy định chế độ ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sỹ. Tháng 7/1951, Hồ Chủ tịch phát động phong trào “Đón thương bình về làng”. Nhờ các chính sách lớn về ưu tiên chia cấp ruộng đất, miễn giảm thuế nông nghiệp, miễn dân công nghĩa vụ cùng với sự thương yêu đùm bọc của nhân dân, nhìn chung cuộc sống của thương binh về địa phương được ổn định.

Bước sang giai đoạn hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc ( 1955-1964), ngành Lao động đã tham mưu cho Đảng và Chính phủ ban hành hệ thống chính sách lao động kịp thời phục vụ cho công cuộc khôi phục và kiến thiết đất nước, bao gồm:

- Các chính sách liên quan đến điều chỉnh quan hệ lao động làm công ăn lương trong các xí nghiệp thời gian đầu mới tiếp quản;

- Các chính sách đảm bảo đời sống và điều kiện lao động cho công nhân, viên chức Nhà nước, Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hôi, bảo hộ lao động được ban hành;

- Các chính sách về huy động, phân bổ và sử dụng lao động đã ban hành nhằm phân công lại lao động xã hội phục vụ cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trong các kế hoạch 3 năm và 5 năm. Đặc biệt, năm 1961, Nhà nước đã đề ra chủ trương vận động đồng bào miền xuôi đi xây dựng và phát triển kinh tế văn hóa miền núi. Đây là chủ trương rất lớn đã được khẳng định trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 5 (khóa III) tháng 7/1961 và được thực hiện có hiệu quả cho đến tận ngày hôm nay.

Trong lĩnh vực thương binh – liệt sỹ, nhiệm vụ trọng tâm là vừa giải quyết những tồn đọng của thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với nhiệm vụ khôi phục, phát triển sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam. Hàng loạt chính sách đối với thương binh – liệt sỹ thời kỳ chống Pháp được sửa đổi bổ sung như:

- Chế độ phụ cấp thương tật 6 tháng thay thế chế độ lương hưu thương tật;

- Điều lệ ưu đãi thương binh, bệnh binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong, điều lệ ưu đãi gia đình liệt sỹ;

- Chế độ tiền tuất cho gia đình liệt sỹ, kể cả liệt sỹ dân, chính, đảng; quy định việc cất, bốc, quy tập mộ liệt sỹ; xây dựng nghĩa trang liệt sỹ; Chế độ bệnh binh cho quân nhân tình nguyện, dân quân tự vệ….

Có thể nói, trong thời kỳ này chính sách thương binh, liệt sỹ được bổ sung, hoàn thiện một cách căn bản, góp phần giải quyết những vấn đề cơ bản, cấp bách nhất đối với thương binh, gia đình liệt sỹ.

Trong giai đoạn 1965-1975, cả nước thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược, đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Nhiệm vụ trọng tậm của ngành Lao động là nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách lao động cho phù hợp với điều kiện thời chiến và tổ chức triển khai có hiệu quả các chính sách đó nhằm góp phần huy động tối đa sức người, sức của thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng.

Năm 1967, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về phân công lại lao động xã hội và Hội đồng Chính phủ ra Nghị quyết về tăng cường quản lý lao động xã hội, bảo đảm sản xuất tốt và chiến đấu thắng lợi. Quán triệt quan điểm đó, hàng loạt chính sách lao động đã được ban hành như: Chính sách phân phối, chính sách tiền lương; chính sách lao động nữ; hướng dẫn thực hiện các biện pháp về tổ chức lao động khoa học, xây dựng định mức lao động, các hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm; quản lý lao động trong nông, lâm trước quốc doanh, các hợp tác xã; Chính sách về đào tạo công nhân kỹ thuật…..

Trong thời kỳ này, hàng loạt chính sách thương binh, liệt sỹ đã được sửa đổi, bổ sung như: nâng mức trợ cấp đặc biệt cho các đối tượng bố, mẹ có con độc nhất là liệt sỹ, có nhiều con là liệt sỹ, con liệt sỹ mô côi, nâng mức sinh hoạt phí nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh nặng, nâng mức trợ cấp phục vụ cho thương, bệnh binh nặng, tổ chức khám bệnh và định mức phí y tế cho thương binh, quy định việc cung cấp phương tiện hỗ trợ, chế độ khám, chữa bệnh, miễn giảm tiền tàu xe đi lại….Phong trào toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ phát trển rộng khắp với các hoạt động phong phú.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các chính sách, chế độ đối với thương binh, liệt sỹ chưa có điều kiện ban hành ở miền Nam. Mặc dù vậy, các địa phương, các đơn vị miền Nam đã rất cố gắng giải quyết những vấn đề cấp bách như chôn cất, giữ gìn hài cốt, bảo quản phần mộ liệt sỹ, cấp cứu, điều trị, nuôi dưỡng thương binh; khi có điều kiện thì tổ chức đưa anh, chị em ra miền Bắc điều trị, an dưỡng. Chính sách thương binh, liệt sỹ giai đoạn này phát triển tương đối toàn diện đã góp phần làm tốt công tác hậu phương quân đội, động viên, khích lệ cán, chiến sỹ và nhân dân hăng hái trong chiến đấu, hết lòng chi viện cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Bước sang giai đoạn đất nước thống nhất, cả nước tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, lĩnh vực lao động – thương binh và xã hội có bước phát triển vượt bậc cả về phạm vi, lượng và chất.

Giai đoạn 1976-1985: Đất nước thống nhất, Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã tập trung tham mưu chính sách, giải pháp sắp xếp việc làm cho người lao động thất nghiệp ở các đô thị miền Nam, giúp nhiều người chuyển về quê cũ làm ăn, ổn định việc làm, đời sống cho số cán bộ tập kết từ miền Bắc trở về; sắp xếp việc làm cho bộ đội, thanh niên xung phong xuất ngũ; động viên lực lượng lao động cả nước tham gia khôi phục cơ sở hạ tầng; ban hành và thực hiện chính sách điều động lao động và dân cư vùng đồi bằng sông Hồng đi khai hoang, xây dựng các vùng kinh tế mới; đưa công nhân và cán bộ đi bồi dưỡng, nâng cao tay nghề và làm việc có thời hạn tại các nước xã hội chủ nghĩa; tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp quốc doanh, ổn định đời sống của người hưởng lương; tập trung tổ chức xác nhận thương binh, liệt sỹ, thống nhất chính sách, chế độ giữa hai miền; cất bốc, quy tập mộ, xây dựng nghĩa trang liệt sỹ. Cùng với việc cải cách chế độ tiền lương, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định bổ sung, sửa đổi một số chế độ về thương binh, xã hội; thống nhất chế độ giữa các thời kỳ.

Giai đoạn 1986-2000: Xuất phát từ thực tiễn công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thực hiện, hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về lao động – thương binh và xã hội được xây dựng tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh:

Trong lĩnh vực lao động: Bộ Luật Lao động và các Pháp lệnh, Nghị định đã thiết lập được khung pháp lý cho sự phát triển của các quan hệ và điều chỉnh các quan hệ lao động. Hàng loạt các chế định về giải quyết việc làm, dạy nghề, xuất khẩu lao động, phát triển nguồn nhân lực, triệt để phát huy nội lực sức lao động của toàn xã hội, cải cách chính sách tiền lương, đổi mới chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, thanh tra lao động đã được ban hành và đi vào cuộc sống. Cùng với nhịp tăng trưởng kinh tế, hàng năm đã tạo được việc làm tăng thêm cho 1,2-1,3 triệu lao động.

Trong lĩnh vực người có công, hai Pháp lệnh (Ưu đãi người có công với cách mạng và Phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam Anh hùng) đã kế thừa và phát triển các chính sách ưu đãi thương binh, gia đình liệt sỹ trong mấy chục năm trước, trở thành một hệ thống pháp lý tương đối hoàn chỉnh để thực hiện chính sách ưu đãi người có công, giải quyết tồn đọng về chính sách ưu đãi người có công, giải quyết tồn đọng về chính sách sau chiến tranh. Tới cuối năm 1999, có 6 triệu đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi của Đảng, Nhà nước. Đồng thời, các phong trào nghĩa tình, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công được mở rộng và phát triển mạnh mẽ, phần lớn đối tượng chính sách có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư nơi cư trú.

Trong lĩnh vực xã hội, các Pháp lệnh, Nghị định đã trở thành công cụ quản lý nhà nước về người tàn tật, người cao tuổi, xóa đói giảm nghèo, giảm chênh lệch giàu nghèo, trẻ em đặc biệt khó khăn, cứu trợ xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội. Đặc biệt, những thành tựu trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo đã đạt được những thành công quan trọng, được nhân dân và bạn bè quốc tế công nhận.

Giai đoạn 2001-2005: Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông quan một Luật và hai Pháp lệnh: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động; Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công; Pháp lệnh phòng chống mại dâm. Cùng với hệ thống văn bản pháp luật, Ngành đã xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, dạy nghề, xóa đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, các đề án lớn như: cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội và chế độ ưu đãi đối với người có công, quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề, các cơ sở xã hội đã tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để các ngành và địa phương chủ động, sáng tạo trong huy động các nguồn lực, trong thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu về lao động – thương binh và xã hội. Trong 5 năm, nền kinh tế đã tạo việc làm mới cho 7,5 triệu người; dạy nghề được phục hổi và phát triển; chính sách tiền lương, tiền công được đổi mới; thị trường lao động hình thành và phát triển.

Trong lĩnh vực người có công, chính sách ưu đãi đã tập trung vào đối tượng có cống hiến trong hai cuộc kháng chiến gồm 13 diện đối tượng với trên 8 triệu người đã và đang hưởng chế độ ưu đãi xã hội. Đến cuối năm 2005, đã cơ bản giải quyết các hồ sơ tồn đọng xác nhận thương binh, liệt sỹ và người có công; 100% Bà mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống được phụng dưỡng; 85% hộ chính sách có mức sống bằng và cao hơn mức sống trung bình của địa phương.

Trong lĩnh vực xã hội, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện theo hướng gắn với phát triển bền vững và thực hiện công bằng xã hội, tạo cơ hội cho mọi người, nhất là người nghèo, nhóm yếu thế có cơ hội phát triển, tự mình vươn lên hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng.

Từ năm 2005 đến nay, Ngành đã có những bước đột phá trong xây dựng văn bản pháp luật, đã trình Quốc hội thông qua: Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động (2006,2012); Luật Bảo hiểm xã hội 2006); Pháp lệnh sửa đỏi một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng ( 2005, 2007, 2012); Luật Người khuyết tật (2010); Đồng thời, rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật lĩnh vực lao động và xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp với xu thế hội nhập và các cam kết khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Từ năm 2007, Quốc hội, Chính phủ đã giao cho Ngành nhiệm vụ quản lý Nhà nước lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ trẻ em, đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, khối lượng công việc khá lớn, với tinh thần đổi mới, sáng tạo, đoàn kết nhất trí, ngành đã nhanh chóng ổn định, tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Qua 67 năm xây dựng và phát triển Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội cho thấy những vấn đề có tính quy luật, tính nguyên tắc đã được cuộc sống kiểm nghiệm và được tổng kết về mặt khoa học. Đó cũng chính là những bài học về lý luận và thực tiến trong nghiên cứu, lãnh đạo và chỉ đạo hoạt đọng của ngành:

Thứ nhất, phải quán triệt và cụ thể hóa, thể chế hóa về mặt Nhà nước quan điểm, đường lối của Đảng thành hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về lao động – thương binh và xã hội trong từng giai đoạn cách mạng. Ba bộ phận chính sách về lao động, chính sách về người có công và chính sách xã hội là một thể thống nhất, đều xuất phát từ mục tiêu nhằm đảm bảo an sinh xã hội, phục vụ con người. Tuy mỗi loại chính sách cụ thể có đối tượng, phương thức và cấp độ điều chỉnh khác nhau, nhưng giữa chúng có mối quan hệ biện chứng khăng khít.

Trong hoạch định chính sách lao động, người có công và xã hội cần bảo đảm sự hài hòa, đồng thời chọn đúng các khâu đột phá. Đó là, sự cân đối giữa chính sách lao động, người có công và xã hội trong hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội nói chung; sự đột phá là chính sách về việc làm, dạy nghề, xuất khẩu lao động, tiền lương bảo hiểm xã hội, chính sách đối với người có công, chính sách giảm nghèo.

Thứ hai, để xây dựng chính sách lao động, người có công và xã hội, cùng với quán triệt và cụ thể hóa chủ trương, chính sách chung của Đảng, Nhà nước, còn phải rất coi trọng 3 căn cứ: Điều tra, khảo sát thực tế; tổng kết thực tiễn; nghiên cứu khoa học những vấn đề mới, dự báo những cơ hội và thách thức.

Kết hợp 3 căn cứ trên thực chất là sự gắn kết giữa nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, lý luận được đúc kết từ tổng kết thực tiễn mà có. Vì vậy, phải xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới kinh tế - xã hội nói chung, lao động, người có công và xã hội nói riêng để thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành hệ thống luật pháp và cơ chế thực tiễn phù hợp.

Thứ ba, trong tổ chức thực hiện chính sách lao động, người có công và xã hội, phải đồng thời giải quyết tốt 3 vấn đề:
- Nâng cao vị trí, vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, trên cơ sở phân cấp ngày càng nhiều cơ sở, đồng thời gắn liền thực hiện cải cách hành chính;

- Sự phối hợp chặt chẽ giữu cơ quan chính quyền với sự tổ chức Đảng, đoàn thể, tổ chức xã hội nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị;

- Mở rộng xã hội hóa nhằm khai thác và phát huy mọi nguồn lực xã hội để cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề về lĩnh vực lao động – xã hội, nhất là các vấn đề bức xúc về việc làm, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc người có công, hòa nhập nhóm xã hội yếu thế. Thực hiện rộng rãi dân chủ cơ sở, tạo sự động thuận, giải quyết các vấn đề quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm đối với dân, với tập thể cũng như cá nhân thông qua giải quyết các vấn đề cụ thể vì lợi ích chung và riêng.

Thứ tư, chủ động hội nhập quốc tế, phát triển các quan hệ hợp tác đa phương, song phương và các tổ chức phi Chính phủ, tranh thủ sự tài trợ về kỹ thuật và tài chính của quốc tế thông qua các chương trình, dự án, tăng thêm nguồn lực thực hiện các mục tiêu về lao động, người có công và xã hội.

Thứ năm, phải thường xuyên chăm lo, tăng cường và đổi mới công tác tổ chức cán bộ của Ngành; xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, vừa có bản lĩnh và nhạy cảm chính trị sâu sắc, đồng thời không ngừng tạo lập các điều kiện tương xứng để phát triển cả về cơ sở vật chất, kỹ thuật, năng lực, nguồn lực; mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.

Năm 2012 là năm thứ 2 thực hiện kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội (2011-2015) theo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng ta. Bên cạnh những thận lợi cơ bản cũng có rất nhiều khó khăn, thách thức; Đó là những biến động của nền kinh thế thế giới đã tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế trong nước, chúng ta phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như tác động của tăng giá một số nguyên, vật liệu và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu khác, thị trường tài chính, tiền tệ chưa ổn định, đời sống của một bộ phận dân cư còn khó khăn, thiên tai, dịch bệnh…ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như của Ngành.

Để thực hiện thắng lợi những chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành, chúng ta cần phải phát huy tinh thân đoàn kết nhất trí, triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp có tầm chiến lược, cùng với truyền thống 67 năm vẻ vang và với nỗ lực phấn đấu của mỗi cán bộ, công chức trong toàn ngành, nhất định chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu đó.


Phạm Thị Hải Chuyền

Ủy viên BCH Trung ương Đảng

Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Xem