Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Những nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu lao động

18/05/2013

Năm qua, cả nước đã đưa được 88.298 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt 101,15% so với kế hoạch, tăng 2,9% so với năm 2010.


Có thể nói năm 2011 đã đi qua, với xuất khẩu lao động Việt Nam nói riêng, các nước có xuất khẩu lao động nói chung đều bị ảnh hưởng bởi những diến biến phức tạp về bất ổn về chính trị ở Bắc Phi, Trung Đông; thảm họa về động đất, sóng thần ở Nhật Bản; hậu khủng hoảng, suy thoái về kinh tế vẫn còn có những bất lợi hiện hữu về việc làm, tạo chỗ việc làm mới; đặc biệt do bất ổn về chính trị ở Libi, Chính phủ ta đã phải quyết định đưa hơn 10.000 lao động về nước. Thế nhưng chúng ta vẫn đưa được 88.298 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt 101,15% so với kế hoạch, tăng 2,9% so với năm 2010, trong đó lao động của ta đi làm việc tại Đài Loan khoảng 38.796 người tăng 36,8%; Nhật Bản gần 6.985 người tăng 42,3%; Hàn Quốc 15.214 người tăng 73,8%... Sở dĩ năm 2011 ta đạt được những thành quả đáng kể trên là vì có sự quan tâm chỉ đạo chặt chẽ của Chính phủ, các Bộ Ngành và địa phương trong việc triển khai thực hiện quyết liệt đồng bộ hệ thống các giải pháp nhằm ổn định và phát triển thị trường, quản lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động; đồng thời chủ động xử lý các vi phạm của lao động làm việc ở nước ngoài; nhanh nhạy đưa lao động về nước khi có chiến sự xảy ra. Đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của lao động nước ta.

Trong năm 2012 các ảnh hưởng trên vẫn còn hiện hữu, tuy nhiên liều lượng và mức độ có khác nhau nhưng để đạt được mục tiêu đưa 90.000 người đi làm việc ở nước ngoài, đòi hỏi chúng ta cần phải tiếp tục triển khai quyết liệt, đồng bộ hệ thống các giải pháp, trong đó chú ý giải quyết tốt các nhân tố có ảnh hưởng cơ bản như tăng khả năng cạnh tranh; chú trọng đến quan hệ cung - cầu trên thị trường thế giới và khu vực; tiếp tục cải thiện yếu tố pháp luật; nâng cao chất lượng nguồn lao động... nhằm cạnh tranh với lao động các nước như Trung Quốc, Inđônêxia, Philippin... Trong bối cảnh, hầu hết các nước đều thiếu lao động có trình độ và đang tìm cách cải thiện chính sách nhằm thu hút lao động có tay nghề cao. Việc tiếp nhận lao động phổ thông tiếp tục có nhu cầu lớn. Tuy nhiên, việc sử dụng lao động phổ thông trên thị trường lao động quốc tế có nhiều hạn chế và kém hiệu quả do: thu nhập thấp, khả năng tiếp thu công nghệ mới rất hạn chế, điều kiện làm việc kém, bị đối xử thiếu bình đẳng, giá nhân công thấp, khả năng cạnh tranh khó... Rõ ràng xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đối ngoại có nét đặc thù và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, bị tác động bởi các nền kinh tế và các chính sách phát triển của các nước, đồng thời nó cũng tác động trở lại đối với nền kinh tế và xã hội của cả nước xuất, nhập khẩu lao động. Quá trình xuất khẩu lao động của mỗi quốc gia trong điều kiện kinh tế thị trường chịu ảnh hưởng của một số nhân tố nhất định.Theo chúng tôi, trong năm 2012 và nhưng năm tiếp theo chúng ta đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài cần chú ý và khai thác triệt để các yếu tố ảnh hưởng sau đây:

Một là, tăng khả năng cạnh tranh: Xuất khẩu lao động được thực hiện trong sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia xuát khẩu lao động. Ngày càng có nhiều nước tham gia vào lĩnh vực xuát khẩu lao động, trong hiện thời và trước mắt các nước nhập khẩu lao động chỉ muốn tiếp nhận lao động có kỹ năng cao, thích ứng với công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin, xiết chặt chính sách nhập cư có xu hướng quản lý lao động nhập cư thông qua các hợp đồng lao động thạm thời và chính sách quản lý lao động nhập cư; Đồng thời các nước cũng thông qua Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Di dân quốc tế (IOM) để giải quyết vấn đề di dân và nhập cư lao động một cách toàn diện, phục vụ lợi ích của các quốc gia, người lao động và toàn xã hội.Do đó, chúng ta cần căn cứ đặc thù về nguồn để nâng cao chất lượng cạnh tranh.

Hai là, chú trọng xử lý tốt quan hệ cung – cầu về lao động trên thị trường thế giới và khu vực: Các nước kinh tế phát triển có tốc độ tăng trưởng GDP cao, nhưng tốc độ tăng dân số thấp, dẫn đến thiếu hụt về nguồn nhân lực, có nhu cầu về nhập khẩu lao động, trong khi các nước chậm phát triển hoặc đang phát triển cần đầu tư mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp, bổ sung nguồn thu ngân sách và thu nhập cho người lao động, rất cần đưa lao động ra nước ngoài làm việc. Cung – cầu lao động của thị trường phụ thuộc nhiều vào sự phát triển và các chính sách kinh tế của các nước như: thu nhập, đầu tư, thuế, lãi suất.... của nền kinh tế khu vực và thế giới. Khi cung –cầu lao động mất cân đối nghiệm trọng do nhu cầu tìm việc làm trong nước quá lớn nhưng khả năng xâm nhập, khai thác thị trường lao động quốc tế còn hạn chế, cạnh tranh gay gắt sẽ đẩy chi phí khai thác thị trường lên quá cao, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động, chúng ta cần nâng cao năng lực dự báo. Đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường ngoài nước, kịp thời đón nhận các hợp đồng tiếp nhận lao động, nhất là thị trường có thu nhập cao, an toàn, phù hợp với điều kiện lao động Việt Nam như: Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malyasia... tiếp tục các hoạt động để mở thị trường mới như Hòa Kỳ, Ôxtrâylia, Canada, Cộng hòa Séc...

Ba là, tiếp tục cải thiện các yếu tố có tính chất phát luật: Xuất khẩu lao động là người lao động và các tổ chức kinh doanh hoạt động này. Xuất khẩu lao động không còn là việc làm của một cá nhân, mà liên quan đến nhiều người, nhiều tổ chức cung ứng lao động, đến các nước xuất khẩu lao động, IOM, và ILO... Vì vậy, quản lý xuất khẩu lao động ngoài việc phải tuân thủ những quy định, những chính sách, những hình thức, quy luật của quản lý kinh tế, còn phải tuần thủ những quy định về quản lý nhân sự của cả nước xuất cư và nhập cư. Chúng ta cần chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách hỗ trợ cho xuất khẩu lao động phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo dõi chặt chẽ tình hình lao động làm việc ở nước ngoài; bảo vệ quyền lợi người lao động, đồng thời xử lý kịp thời những vi phạm kỷ luật của người lao động làm ảnh hưởng đến thị trường; theo dõi, hỗ trợ và phát huy lực lượng lao động này khi về nước.

 

Bốn là, đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng nguồn lao động: Các nước nhập khẩu lao động truyền thống đang đổi mới đầu tư và hiện địa háo công nghệ sản xuất, chuyển dịch đầu tư tư bản sang nước có giá nhân công và dịch vụ thấp và có nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, tăng dần tỷ trọng lao động chất xám cao trong tổ số lao động nhập cư. Theo thống kế của ILO, có khoảng hơn 60 nước có di cư và đi lao động nước ngoài, với tổng số gần 120 triệu người, trong đó các nước Châu Á chiếm hơn 50%. Hầu hết các nước trên thế giới đều có lao động nước ngoài làm việc, ILO ước tính khoảng trên 200 nước trên thế giới tiếp nhận lao động nuuwocs ngoài, nhưng chủ yếu tập trung ở các nước phát triển, khoảng 1/3 ở Châu Âu, 20% ở Bắc Mỹ, 15% ở Châu Phi, 12% ở các nước Ả rập, tất cả các khu vực Đông Bắc Á, Đông và Nam Á, Trung và Nam Mỹ chiếm đến chưa đến 10%.Để cạnh tranh với các nước trên chúng ta phải trang bị cho người lao động về kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp đúng đắn.

 

Năm là, giải quyết tốt các nhân tố khác như: tăng cường công tác quản lý; hạn chế đến mức thấp nhất lao động phá vỡ hợp đồng; xử lý nhanh, chính xác các tình huống phát sinh trong quan hệ lao động... góp phần tăng niềm tin của chủ sử dụng lao động khi sử dụng lao động Việt Nam.

 

Với tính chất phức tạp, nhạy cảm và tính chất quốc tế cao của xuất khẩu lao động, sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động với tư cách hỗ trợ, quản lý, giám sát và định hướng cho công tác xuất khẩu lao động là cần thiết, ứng với mỗi giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước, phải có một phương thức tổ chức và quản lý xuất khẩu lao động riêng, trong đó quản lý tài chính xuất khẩu lao động là một khâu quan trọng để đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội. Việc vận dụng, khai thác tốt các nhân tố mới có ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động sẽ giúp cho chúng ta có cơ hội thực hiện thành công chiến lược xuất khẩu lao động Việt Nam trong những năm tới, góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới.

 

 

 

 

 

 



Xem