Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Hoàn thiện chính sách trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

20/04/2012

Trong mười năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc thực hiện quyền trẻ em. Những biện pháp nhằm thúc đẩy thực hiện quyền trẻ em, giảm nghèo đói và bất bình đẳng trong xã hội, tăng cường tiếp cận với y tế, giáo dục, vui chơi giải trí và bảo vệ trẻ em đã góp phần làm giảm nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, giảm nguy cơ bị bạo lực, lạm dụng và bóc lột đối với trẻ em.


Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tính đến cuối năm 2009 là 1.537.179 em, chiếm khoảng 1,79% dân số và khoảng 6% dân số trong độ tuổi trẻ em, bao gồm 10 nhóm đối tượng theo Luật Bảo vệ, giáo dục và chăm sóc trẻ em là: trẻ em khuyết tật, nạn nhân chất độc hóa học, trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi không nơi nương tựa, bị nhiễm bởi HIV/AIDS, lao động trong điều kiện nặng nhọc, nguy hiểm, trẻ em làm việc xa gia đình, trẻ em lang thang, bị xâm hại tình dục, vi phạm pháp luật và trẻ em nghiện ma túyBốn nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khác (trẻ em bị buôn bán, bắt cóc; trẻ em bị ngược đãi, bạo lực; trẻ em sống trong gia đình nghèo và trẻ em bị tai nạn thương tích) khoảng 2,75 triệu. Tổng số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn là 4.288.265 em, chiếm 5% dân số và 18,2% dân số trong độ tuổi trẻ em. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt diễn biến phức tạp và vẫn có có xu hướng tăng nhưng khôngnhiều, từ 1,46 triệu năm 2001 tăng lên 1,537 triệu năm 2009, tuy vậy, tốc độ gia tăng có xu hướng giảm, giai đoạn 2001-2005 tăng 4,6%, nhưng sang giai đoạn 2005-2009 giảm xuống còn 0,6%.

Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phân theo đối tượng (1000 em)

2001
2003
2005
2007
2009
1.Trẻ em mồ côi
125,4
153,8
143,0
123,4
129,6
2.Trẻ em khuyết tật
1.220,8
1.230,7
1.250,5
1.291,5
1.316,2
3.Trẻ em làNNCĐHH
45,550
36.120
30,150
24,745
18,794
4.Trẻ em nhiễm HIV
1,950
2,189
1.919
2,415
2,381
5.Trẻ em lao động
30,120
35,550
68,071
26,027
25,823
6.Trẻ em lang thang
21,016
17,918
17,026
16,316
22,974
7.Trẻ em bị XHTD
1,111
1,040
1,084
1,169
0,833
8.Trẻ em nghiện MT
1,420
1,350
1,148
1,245
1,067
9.Người CTNVPPL*
11,376
14,038
12,013
12,625
15,530
10.Trẻ emLVXGĐ
1,820
2,330
2,950
3,250
3,997
Tổng số
1.460,563
1.495,035
1,527,861
1.502,692
1.537,179
Biểu đồ: Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 2001-2009

Tổng quan về chính sách trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Hệ thống luật pháp chính sách về trẻ em ngày càng hoàn thiện: Việt Nam là một trong các quốc gia trên thế giới cósự cam kết mạnh mẽ về thực hiện quyền trẻ em. Điều này đã được thể hiệnrõ trong khuôn khổ luật pháp chính sách.
Ở cấp quốc tế, Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới phê duyệt Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, và cũng đã thông qua Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm và khiêu dâm trẻ em. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã tham gia Công ước Lahay về bảo vệ trẻ em nhằm tạo ra cơ sở pháp lý quốc tế đa phương ổn định và lâu dài cho công tác bảo vệ trẻ em được cho làm con nuôi ở nước ngoài.

Ở cấp quốc gia, Việt Nam đã xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật về bảo vệ và chăm sóc trẻ em bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và hài hoà với pháp luật quốc tế; đảm bảo ứng phó kịp thời với những quan hệ xã hội mới, hội nhập vững chắc vào các tiêu chuẩn luật pháp quốc tế, tạo điều kiện cho trẻ em phát triển toàn diện. Hiện nay, Việt Nam có LuậtBảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em(ban hành năm 2004) quy định về các quyền cơ bản và nghĩa vụ của trẻ em, của người bảo trợ và các bên tham gia đối với việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Bên cạnh đó, còn có một số luật khác cũng liên quan đến vấn đề bảo vệ trẻ em như Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình, Luật Giáo dục, Luật Phòng chống Tội phạm, Luật Dân sự, Bộ luật Lao động, mới đây chương trình Quốc gia Bảo vệ trẻ em 2011-2015 đã được Chính phủ phê duyệt.

Các hoạt động trợ giúp: Tại Điều 25, 42 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định Ủy Ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt, hoặc trẻ em không có người chăm sóc, thông qua các mô hình gia đình chăm sóc thay thế hoặc các cơ sở hỗ trợ trẻ em. Trong những năm qua các địa phương trong cả nước đã có một số mô hình chăm sóc tập trung cho trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em đường phố, trẻ em khuyết tật (cơ sở bảo trợ xã hội); trẻ em vi phạm pháp luật (trường giáo dưỡng); phục hồi cho trẻ em và người chưa thành niên hành nghề mại dâm (trung tâm 05) và nghiện ma túy (Trung tâm 06). Hiện, cả nước có trên 400 cơ sở chăm sóc tập trung các đối tượng xã hội trong đó có trên gần 300 cơ sở của Nhà nước và trên 100 cơ sở do các tổ chức xã hội, tôn giáo, tư nhân thành lập, nuôi dưỡng khoảng 20.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Song song với mô hình chăm sóc thay thế tập trung, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã chỉ đạo các địa phương từng bước chuyển đổi từ mô hình chăm sóc tập trung sang mô hình chăm sóc thay thế hoặc nhà xã hội đối với trẻ em nhiễm HIV, trẻ em mồ côi, khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác; mô hình này giúp cho trẻ em phát triển toàn diện hơn, chỉ số thông minh cũng cao hơn, khả năng hòa nhập cộng đồng cũng thuận lợi hơn và chi phí cũng đỡ tốn kém hơn so với nhóm trẻ em được chăm sóc trong các cơ sở tập trung (chăm sóc tập trung tốn kém gấp 7 lần chăm sóc thay thế tại gia đình). Mô hình gia đình chăm sóc thay thế cũng rất đa dạng phong phú với nhiều hình thức khác nhau như cho con nuôi quốc tế, trong nước, nhận nuôi dưỡng, nhận đỡ đầu. Theo báo cáo của các địa phương, đến cuối năm 2009 có khoảng 93.356 trẻ em được chăm sóc theo mô hình này; trong đó nhận nuôi dưỡng 68.000 em, nhận làm con nuôi 25.356em. Từ 2002-2008, có 8.356 trẻ em cho làm con nuôi đến các quốc gia khác trên thế giới, và trên 17.000 trẻ được nhận làm con nuôi trong nước.

Bên cạnh hai mô hình cơ bản nêu trên, với sự hỗ trợ tích cực của các tổ chức quốc tếnhư Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, Tổ chức Lao động thế giới, Liên minh châu Âu, Tổ chức Cứu trợ trẻ em, Tầm nhìn thế giới, Plan, Child fund… Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã chỉ đạo các địa phương xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn đặc biệt khác như mô hình phục hồi cho trẻ em gái bị xâm hai tình dục, mô hình tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em vi phạm pháp luật, mô hình trợ giúp trẻ em cai nghiện ma túy, mô hình phòng ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em đi lang thang, mô hình trợ giúp trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, mô hình phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em… Việc triển khai thực hiện các mô hình nêu trên và đồng thời với các chương trình phát triển kinh tế xã hội khác của Chính phủ đã góp phần tạo nên môi trường an toàn, thân thiện với trẻ em; giảm thiểu đáng kể các nguy cơ dẫn đến trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị tổn thương và tăng cường sự tham gia của trẻ em; đồng thời trợ giúp kịp thời cho nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em nghèo.

Nhà nước cũng đã có chính sách trợ giúp bao gồm cả trợ cấp xã hội và trợ giúp về y tế, giáo dục và các trợ giúp cần thiết cho trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ emkhuyết tật, trẻ em bị hậu quả chất độc hóa học, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS (Quyết định 65); chính sách trợ giúp cho các gia đình và cá nhân nuôi dưỡng trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ em khuyết tật (Quyết định số 38); chính sách trợ giúp cho các hộ gia đình nghèo và trẻ em nghèo và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khác (Nghị định 67). Mặc dù còn hạn chế về số lượng đối tượng được hưởng thụ, mức trợ cấp, trợ giúp còn thấp so với mức sống trung bình của dân cư, nhưng trong những năm qua, Chính phủ cũng đã có sự điều chỉnh, bổ sung các mức hỗ trợ và hầu hết các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đều đã được bảo đảm những nhu cầu cơ bản tối thiểu và có cơ hội phát triển hòa nhập cuộc sống cộng đồng; đa phần các em được bảo đảm ăn no, mặc ấm, được chăm sóc sức khỏe, được học hành, được sống trong tình yêu thương của gia đình, cộng đồng xã hội và Nhà nước.

Tuy nhiên, trong bối cảnh bất bình đẳng về thu nhập, mức sống có xu hướng gia tăng giữa nhóm trẻ em nghèo với nhóm trẻ em giàu, khu vực nông thôn – thành thị, giữa các vùng miền khác nhau đã dẫn đến bất bình đẳng về cơ hội phát triển giữa các nhóm trẻ em. Thêm vào đó là còn khá nhiều nhu cầu bức xúc của nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa được giải quyết, hay nói một cách khác là một số quyền của nhóm trẻ này có nguy cơ không được thực hiện đầy đủ, do vậy cần thiết phải hình thành một số chính sách, chương trình, đề án nhằm giải quyết những nhu cầu bức xúc của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như:

- Sửa đổi chính sách trợ cấp, trợ giúp theo hướng mở rộng đối tượng; nâng mức trợ cấp trợ giúp cho phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là trong điều kiện suy giảm kinh tế, lạm phát tăng cao như hiện nay.

- Cần phải thúc đẩy hình thành hệ thống bảo vệ trẻ em trên cơ sở pháp luật hóa các quy định về thể chế chính sách, thể chế tổ chức và hệ thống cung cấp dịch vụ; tiêu chuẩn hóa các loại hình dịch vụ, nhằm hạn chế tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt hoặc bị tổn thương.

- Cần phải bổ sung các chính sách, chương trình tiếp sức cho trẻ em khuyết tật, trẻ em bị nhiễm HIV đến trường, chống phân biệt đối xử hay kỳ thị, tạo cơ hội cho nhóm trẻ em này hòa nhập cộng đồng và phát triển.

- Nghiên cứu hình thành chính sách hoặc đề án trợ giúp khám, phẫu thuật và điều trị bệnh tim bẩm sinh cho trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh, nhất là nhóm trẻ em thuộc các hộ gia đình nghèo, các hộ gia đình cư trú ở các vùng khó khăn.

- Tạo cơ chế trợ giúp phù hợp để thúc đẩy phát triển các chương trình phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật dựa vào cộng đồng.

- Tạo cơ chế, chính sách và mô hình bảo vệ chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng, nhất là nhóm trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi không nguồn nươi dưỡng.

- Phát triển các mô hình chăm sóc thay thế dựa vào cộng đồng trên cơ sở có chính sách trợ giúp của Nhà nước để tạo cơ hội cho trẻ em thực hiện các quyền cơ bản của mình như quyền sống còn, quyền được sống cùng cha mẹ; quyền được phát triển, quyền được vui chơi giải trí...

- Tạo cơ hội cho nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em khuyết tật, trẻ em nghèo lớn tuổi không có điều kiện theo học ở các bậc học cao hơn được hướng nghiệp, học nghề phù hợp với tình trạng sức khỏe, đặc thù của địa phương để giúp các em có được việc làm khi bước vào độ tuổi lao động, bảo đảm sinh kế bền vững, góp phần ổn định cuộc sống của gia đình các em, và giảm thiều tình trạng bất bình đẳng về cơ hội phát triển giữa các nhóm trẻ em.

- Xây dựng và ban hành chính sách phúc lợi cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em nghèo, trẻ em sống trong các gia đình có thu nhập thấp để bảo đảm an toàn cuộc sống cho trẻ em vàtạo cơ hội cho trẻ em tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế và các phúc lợi xã hội khác, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng tốt hơn trong tương lai.

TS. Nguyễn Hải Hữu
Cục trưởng Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em


Xem