Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Thực trạng thể chế hóa các quy định của hiến pháp về việc làm

27/03/2013

Ra đời trong bối cảnh nước ta bắt đầu chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp năm 1992 là văn bản pháp lý có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thể chế hóa các quan điểm, đường lối đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường Xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiến pháp 1992 là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao nhất, là cơ sở pháp lý cho việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

 
Trong lĩnh vực lao động, việc làm, Hiến pháp 1992 quy định: Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động (Điều 55); Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động. Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động (Điều 56).
Thể chế hóa các quy định cơ bản của Hiến pháp 1992 trong lĩnh vực lao động, việc làm, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007 để điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động, các quan hệ xã hội khác có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động trong đó có quan hệ về việc làm. Bộ luật Lao động gồm 17 chương, 198 điều, trong đó có riêng một chương (Chương II – Việc làm) với 7 điều quy định về việc làm, tạo tiền đề cho việc thiết lập và tiến hành quan hệ lao động.
Bộ luật Lao động đã khẳng định quyền làm việc và tự do chọn việc làm: "Mọi người đều có quyền làm việc, tự lựa chọn việc làm và nghề nghiệp ... Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ" (Điều 5). Bộ luật đã đưa ra một quan niệm mới về việc làm: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" (Điều 13).
Theo quy định tại các Điều 14, 15, 17 Bộ luật Lao động, Nhà nước có trách nhiệm về giải quyết việc làm ở tầm vĩ mô như: xác định chỉ tiêu kế hoạch việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm; có chính sách ưu đãi khuyến khích về giải quyết việc làm (hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc giảm miễn thuế...); Chính phủ xây dựng chương trình quốc gia về việc làm, lập quỹ quốc gia về việc làm, phát triển hệ thống dịch vụ về việc làm, có biện pháp tổ chức dạy nghề, đào tạo lại … Người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp cũng cótrách nhiệm như: phải ưu tiên nhận lao động nữ (Điều 111); phải nhận một tỷ lệ người lao động tàn tật (Điều 125) …
Bên cạnh đó, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo hiểm Xã hội quy định về chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội…Luật Bảo hiểm xã hội có một chương riêng (Chương V) về bảo hiểm thất nghiệp, trong đó quy định đối tượng tham gia, điều kiện hưởng, các chế độ đối với người lao động bị thất nghiệp như trợ cấp thất nghiệp (Điều 82), hỗ trợ học nghề (Điều 83), hỗ trợ tìm việc (điều 84)…
Ngoài Bộ Luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, việc thể chế hóa các quy định trong Hiến pháp về vấn đề lao động, việc làm đã được cụ thể hóa trong Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, Luật Người khuyết tật năm 2010 (Chương V - Dạy nghề và Việc làm).....và các Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư, Thông tư liên tịch của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành trong lĩnh vực việc làm, thị trường lao động và bảo hiểm thất nghiệp.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên đã tạo hành lang pháp lý cho các quan hệ xã hội về việc làm, thị trường lao động phát triển theo các quy luật của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy và bảo đảm việc làm cho người lao động. Kết quả cụ thể là:
- Đã khẳng định quyền làm việc và tự do lựa chọn việc làm của người lao động, quyền tuyển chọn và sử dụng lao động của người sử dụng lao động là cơ sở để giải phóng sức lao động xã hội, theo đó người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận, trao đổi sức lao động theo quy định của pháp luật, người lao động từ chỗ thụ động, ỷ lại vào sự phân công công việc của Nhà nước đã chuyển sang chủ động, tích cực tìm kiếm việc làm.
- Trách nhiệm tạo và giải quyết việc làm của các cơ quan Nhà nước được cụ thể hóa trong các chính sách ưu đãi, khuyến khích tạo việc làm ở trong và ngoài nước; các chương trình, đề án của Nhà nước về việc làm và một số chính sách riêng về việc làm cho các đối tượng đặc thù như lao động nữ, lao động là người khuyết tật ...., góp phần tạo môi trường thuận lợi cho mọi người lao động bình đẳng tham gia thị trường lao động, tạo cơ hội cho họ tìm việc làm và tự tạo việc làm, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống, bảo đảm việc làm bền vững.
- Chính sách thị trường lao động ngày càng hoàn thiện đã tạo cơ sở cho việc thành lập, hoạt động của các tổ chức giới thiệu việc làm; xây dựng và vận hành hệ thống thông tin thị trường lao động, góp phần kết nối cung cầu lao động, thúc đẩy việc làm, việc làm bền vững cho người lao động.
- Về quản lý lao động đã điều chỉnh được một số vấn đề liên quan đến tuyển dụng và quản lý lao động trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đối với người lao động có quan hệ lao động, lao động dịch chuyển trong các doanh nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất ... Các quy định về việc quản lý, tuyển dụng, cấp giấy phép đối với lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam đã được ban hành tương đối đầy đủ. Ngoài ra, quy định về việc tuyển chọn, sử dụng và quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam đã được ban hành phù hợp với luật pháp quốc tế, tình hình thực tiễn của Việt Nam góp phần thúc đẩy việc làm cho lao động trong nước.
- Những quy định về bảo đảm việc làm cho người lao động được ban hành và triển khai như: việc làm linh hoạt, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng vào chỗ làm việc mới trong trường hợp thay đổi cơ cấu công nghệ, hỗ trợ người lao động bị mất việc làm trong các doanh nghiệp gặp phải do suy giảm kinh tế (hỗ trợ đột xuất), hỗ trợ giải quyết rủi ro cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài… đã góp phần tạo và ổn định việc làm cho người lao động, giải quyết những khó khăn cho người lao động không may gặp phải khi đang làm việc. Đặc biệt, từ năm 2009, chính sách bảo hiểm thất nghiệp được triển khai đã thu được nhiều kết quả, đạt được mục tiêu cơ bản và quan trọng là giải quyết vấn đề an sinh xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp: người lao động khi hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp ngoài việc được hưởng một khoản tiền trợ cấp để bù đắp một phần thu nhập do bị mất việc làm và hưởng chế độ bảo hiểm y tế còn được hỗ trợ học nghề để nâng cao trình độ, kỹ năng và tư vấn giới thiệu việc làm miễn phí, góp phần đưa người lao động sớm trở lại thị trường lao động.
Như vậy, quá trình thể chế hóa các quy định của Hiến pháp về việc làm đã tuân thủ Hiến pháp và theo đúng quy định của pháp luật, xuất phát từ thực tiễn của các quan hệ xã hội về việc làm, dựa trên sự tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về việc làm; tiếp thu các Điều ước, Công ước quốc tế mà nước ta đã phê chuẩn; tham khảo rộng rãi và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp luật lao động của các quốc gia trên thế giới, bước đầu đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về việc làm. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn bộc lộ những hạn chế như sau:
- Việc thể chế hoá các quy định của Hiến pháp về vấn đề việc làm còn chưa đồng bộ, hầu hết các quy định cụ thể được thể hiện trong các nghị định, quyết định, thông tư hướng dẫn thi hành ... nên tính pháp lý chưa cao.
- Văn bản có hiệu lực cao nhất nhằm cụ thể hoá Hiến pháp là Bộ luật Lao động (Chương II - Việc làm). Tuy nhiên, Bộ luật Lao động được xây dựng và hình thành trong giai đoạn nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên nhiều vấn đề của kinh tế thị trường nói chung, của thị trường lao động và quan hệ việc làm nói riêng mới chỉ ở giai đoạn sơ khai. Mặc dù đã có những sửa đổi, bổ sung, đồng thời ban hành mới một số luật để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội về việc làm nhưng do sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các quan hệ việc làm ngày càng phát triển về số lượng, phong phú và đa dạng về hình thức nên quá trình thực hiện các chính sách, pháp luật về việc làm đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế, phát sinh một số vấn đề mới về quan hệ việc làm đòi hỏi cần được cụ thể hoá.
- Các văn bản quy phạm pháp luật về việc làm hiện nay còn chưa cụ thể hoá một số vấn đề về lao động, việc làm như: chưa có quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động trong thị trường lao động; chưa có quy định về các chỉ tiêu của thị trường lao động để có thể đánh giá được sự phát triển của thị trường lao động; quy định về việc làm chủ yếu mới chú trọng đến tạo việc làm, chưa chú trọng đến chất lượng việc làm; quy định về Quỹ giải quyết việc làm chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời gây khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện; quy định về hỗ trợ việc làm chưa được hướng dẫn cụ thể...
- Chính sách phát triển thị trường lao động chưa rõ, chưa hình thành một mô hình hoạt động giao dịch việc làm khoa học, chưa chấp nhận hoàn toàn tính “thị trường” của dịch vụ việc làm ...Thiếu hệ thống chính sách đồng bộ và dài hạn về hỗ trợ cho các Trung tâm giới thiệu việc làm, đặc biệt là các chính sách đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị, chính sách cán bộ, chính sách đào tạo, chính sách tài chính ...
- Quy định về quản lý lao động không có quan hệ lao động chưa đầy đủ. Việc quản lý lao động bằng Sổ lao động mới chỉ quản lý được lao động có quan hệ lao động (chiếm khoảng 14,2% lao động có việc làm trong lực lượng lao động) song hiệu quả chưa cao, một số nội dung trùng lắp với Sổ Bảo hiểm xã hội (Nghị quyết của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính đã đề nghị bỏ quy định về Sổ lao động). Một số quy định về việc tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với một số đối tượng là người nước ngoài làm việc trong các ngành nghề đặc thù và tình hình thực tế. Còn thiếu các quy định quản lý, phát huy khả năng của lao động làm việc ở nước ngoài sau khi trở về nước ...
- Một số quy định về bảo hiểm thất nghiệp tại Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản dưới luật còn chưa đầy đủ, thiếu hệ thống, thiếu đồng bộ. Các quy định còn mang tính nguyên tắc, chung chung và tản mát ở nhiều văn bản gây khó khăn trong quản lý và thực hiện. Một số quy định còn chưa phù hợp như: quy định về đối tượng, phạm vi tham gia bảo hiểm thất nghiệp còn hạn chế nên chưa phát huy được hết lợi ích của chính sách này (bảo hiểm thất nghiệp mới chỉ áp dụng đối với người lao động có giao kết hợp đồng lao động từ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động sử dụng từ 10 lao động trở lên, không áp dụng đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài); chính sách bảo hiểm thất nghiệp mới chỉ hỗ trợ đối với người lao động sau khi thất nghiệp, chưa có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động nhằm bảo đảm việc làm, chống thất nghiệp....
Từ thực tiễn quá trình thể chế hóa các quy định của Hiến pháp về việc làm nêu trên, để tạo cơ sở pháp lý cho các văn bản quy phạm pháp luật về việc làm cần tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Điều 55, Điều 56 Hiến pháp 1992 theo hướng khẳng định quyền và nghĩa vụ lao động của công dân; bổ sung trách nhiệm của Nhà nước, xã hội cũng như bản thân người lao động trong việc phát triển việc làm và thị trường lao động nhằm thúc đẩy việc làm, nâng cao chất lượng việc làm; phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm việc làm cho người lao động
Bên cạnh đó, để khắc phục những hạn chế, bất cập của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về việc làm, thể chế hóa các quan điểm, định hướng của Đảng về việc làm trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, đồng thời thực hiện các cam kết quốc tế về lao động – việc làm đòi hỏi trong thời gian tới phải nghiên cứu, xây dựng Luật Việc làm nhằm điều chỉnh toàn diện và thống nhất các vấn đề thuộc lĩnh vực việc làm như: chính sách việc làm, quản lý lao động, thông tin thị trường lao động, dịch vụ việc làm, phát triển kỹ năng nghề và bảo hiểm việc làm góp phần tạo và thúc đẩy việc làm, việc làm bền vững cho người lao động./.

Nguyễn Thanh Hòa
Thứ trưởng Thường trực Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Xem