Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Tập trung phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội

22/03/2012

Năm 2011 đã qua đi với nhiều khó khăn, thách thức: lạm phát, giá cả tăng cao, thiên tai liên tiếp cộng với tình hình thế giới có nhiều bất ổn, khủng hoảng chính trị ở Trung Đông, vấn đề nợ công và suy thoái kinh tế diễn biến phức tạp. Song, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, nước ta đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là về phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh xã hội.

Năm 2011 đã qua đi với nhiều khó khăn, thách thức: lạm phát, giá cả tăng cao, thiên tai liên tiếp cộng với tình hình thế giới có nhiều bất ổn, khủng hoảng chính trị ở Trung Đông, vấn đề nợ công và suy thoái kinh tế diễn biến phức tạp. Song, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, nước ta đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là về phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh xã hội.

Lao động Việt Nam có tinh thần ham học hỏi, cầu tiến, không ngừng tiếp thu khoa học, kỹ thuật sản xuất và quản lý hiện đại. Tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề tăng nhanh. Năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo Việt Nam có một nguồn nhân lực trẻ, dồi dào. Tính đến tháng 9/2011, lực lượng lao động cả nước là 51,6 triệu người (chiếm 58,1% dân số), tăng 1,2 triệu người so với cùng kỳ, trong đó lao động trẻ ở độ tuổi 15-34 chiếm tỷ lệ cao (45,51%). Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 12/2010, nước ta có 9,5 triệu công nhân, hơn 2,5 triệu trí thức tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên và khoảng 2 triệu người là cán bộ quản lý từ các doanh nghiệp, trong đó khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu người…. Đây là những lợi thế lớn về nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Chất lượng nguồn nhân lực nước ta đã từng bước được cải thiện (năm 2010, tỷ lệ lao động chưa biết chữ là 4,6%, chưa tốt nghiệp tiểu học là 13,7%, tốt nghiệp tiểu học là 27,6%, tốt nghiệp THCS là 28,5% và tốt nghiệp THPT là 25,6%). Một thuận lợi cơ bản trong phát triển nguồn nhân lực ở nước ta là ngày 19/4/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 579/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020, tạo tiền đề cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong những năm tới.
Về giải quyết việc làm, theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, thử thách nhưng năm 2011 Việt Nam đã giải quyết việc làm trong nước cho trên 1,45 triệu người và đưa đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài được 87 ngàn lao động (đạt chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc hội). Nhờ đó, đã góp phần tăng quy mô lao động có việc làm từ 39 triệu người (năm 2001) lên 50,6 triệu người (năm 2011). Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực. Nếu năm 2001, tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp của cả nước là 64%, công nghiệp-xây dựng là 13,9% và dịch vụ là 22,1% thì đến tháng 9 năm 2011, các con số tương ứng là 49%, 21% và 30% (Vượt mục tiêu đặt ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2001-2010 là giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp xuống dưới 50% vào năm 2010). Riêng 300.000 doanh nghiệp và hơn 2 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh đã thu hút gần 20 triệu lao động vào làm việc.
Về bảo đảm an sinh xã hội: Hệ thống các chính sách an sinh xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện trên các lĩnh vực: xoá đói giảm nghèo, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, ưu đãi người có công với nước, trợ giúp xã hội và mở rộng các dịch vụ xã hội. Cùng với nguồn lực không ngừng tăng lên và những nỗ lực trong tổ chức thực hiện, an sinh xã hội ngày càng được bảo đảm tốt hơn, góp phần quan trọng vào nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, giữ vững ổn định an ninh chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Năm 2011, công tác xoá đói giảm nghèo tiếp tục đạt được nhiều thành tựu nổi bật: Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) đã giảm từ 15,25% xuống còn 12,7%. Đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo được cải thiện một bước. Hệ thống bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế được quan tâm phát triển với nội dung và hình thức ngày càng phong phú. Số người tham gia BHXH, BHYT và bảo hiểm thất nghiệp ngày càng tăng. Theo báo cáo của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, tính đến cuối năm 2011, đã có trên9,666 triệu người tham gia BHXH, 7,674 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và trên 46 triệu người tham gia BHYT. Việc thực hiện chính sách bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ em đến 6 tuổi, một số đối tượng chính sách, người nghèo tiếp tục được quan tâm. Các chính sách ưu đãi đối với người có công không ngừng được hoàn thiện. Mức trợ cấp ưu đãi được điều chỉnh tăng đều hàng năm. Đến nay, 95% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của dân cư nơi cư trú. Các chính sách trợ giúp xã hội cũng được thực hiện rộng hơn về quy mô, đối tượng thụ hưởng và tăng đều về mức trợ cấp. Số lượng đối tượng được hưởng trợ cấp thường xuyên đã tăng từ 180 nghìn người (năm 2001) lên hơn hơn 1,6 triệu người (năm 2011). Hàng năm Nhà nước còn trợ cấp đột xuất hàng nghìn tỷ đồng và hàng chục nghìn tấn lương thực để trợ giúp khắc phục thiên tai và cứu đói. Đặc biệt, trước những diễn biến bất lợi của lạm phát, năm 2011, Chính phủ đã thực hiện trợ cấp khó khăn cho cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người hưởng lương hưu có mức lương thấp, người hưởng trợ cấp ưu đãi, người có công và hộ nghèo đời sống khó khăn với mức từ 100.000 đồng đến 250.000 đồng/người. Ngoài ra, hệ thống các dịch vụ xã hội trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân, giáo dục và đào tạo, văn hoá, thông tin, cung cấp điện, nước sinh hoạt, xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu… đã được quan tâm phát triển, nhất là ưu tiên đầu tư cho vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chất lượng các dịch vụ nhiều mặt được cải thiện và khả năng tiếp cận của nhân dân ngày càng được nâng cao. Đến nay, 100% số xã, phường đã có trạm y tế, trong đó khoảng 75% số xã có bác sỹ; đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; gần 85% số hộ nông thôn đã được sử dụng nước hợp vệ sinh; gần 100% số hộ đã được sử dụng điện lưới; gần 90% số hộ sử dụng máy thu hình; trên 97% số xã đã có đường ô tô đi tới trung tâm xã…
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nổi bật nêu trên, vấn đề phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập: Chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế, yếu về chất lượng, thiếu về số lượng, thiếu năng động và sáng tạo, chưa được đào tạo về kỷ luật, tác phong công nghiệp nên vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá... Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo,chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ (chiếm 14,6% lực lượng lao động), trong khi cơ cấu đào tạo hiện còn nhiều bất hợp lý. Nhiều ngành nghề, lĩnh vực có tình trạng vừa thừa vừa thiếu nhân lực. Khung pháp lý về việc làm chưa hoàn chỉnh, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn, một số quy định pháp luật về việc làm an toàn, việc làm đầy đủ, thị trường lao động thiếu hệ thống và đồng bộ. Các chính sách về việc làm mới chủ yếu điều chỉnh đối với lao động có giao kết hợp đồng lao động, các đối tượng làm việc ở khu vực phi chính thức và khu vực nông thôn chưa được quy định cụ thể. Việc làm vẫn là một vấn đề bức xúc, tính ổn định và bền vững còn thấp, khả năng tạo việc làm của nền kinh tế chưa cao. Cung - cầu lao động còn có sự mất cân đối cục bộ – nhiều lao động không có việc làm, nhưng nhiều nơi không thể tuyển dụng được vì thiếu lao động có tay nghề, dẫn tới tình trạng dư thừa lao động ở nơi này và thiếu hụt ở nơi khác. Các hình thức bảo hiểm chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân; chất lượng các dịch vụ nhìn chung còn yếu, việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc còn hạn chế trong khi lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn thấp. Trình tự, thủ tục đăng ký thất nghiệp, hưởng bảo hiểm thất nghiệp qua nhiều bước gây khó khăn cho người lao động. Giảm nghèo nhanh nhưng thiếu bền vững, tỷ lệ hộ tái nghèo còn cao. Đời sống một bộ phận dân cư, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn khó khăn, bất bình đẳng giữa các vùng, nông thôn - thành thị có xu hướng gia tăng. Mặt khác, nhận thức về vai trò và vị trí của hệ thống an sinh xã hội trong mô hình phát triển xã hội chưa thống nhất, độ bao phủ của hệ thống và mức hỗ trợ còn thấp, khả năng tiếp cận của nhiều nhóm đối tượng và năng lực phòng chống, quản lý rủi ro của người dân yếu, nguồn lực cho an sinh xã hội hạn chế, chủ yếu phải dựa vào ngân sách Nhà nước.
Những bất cập trên đây trước hết là do công tác lãnh đạo, quản lý còn nhiều yếu kém, hiệu lực hiệu quả chưa cao, nhận thức về phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội còn nhiều hạn chế. Chưa hình thành được hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội rộng khắp với những cơ chế chủ động tích cực, bền vững, làm chỗ dựa vững chắc cho các đối tượng yếu thế.
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ chủ yếu về xã hội trong năm 2012 theo Nghị quyết kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá 13 đó là: Tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị còn khoảng 4%, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 46%, giảm 2% tỷ lệ hộ nghèo..., cần thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường giáo dục, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cả về trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề. Gắn đào tạo nghề với tạo việc làm và thực hiện đề án Đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm 2020, chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn với các giải pháp toàn diện, đồng bộ và có hiệu quả. Đẩy mạnh xã hội hoá để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực; tạo điều kiện và có cơ chế, chính sách mạnh để khuyến khích các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế tăng đầu tư kinh phí để xây dựng, phát triển hệ thống đào tạo ngay tại doanh nghiệp để tiến tới doanh nghiệp phải trở thành lực lượng chủ đạo về đào tạo nghề.
Thứ nhất, cần cụ thể hoá các chỉ tiêu, nhiệm vụ trong Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 bằng các biện pháp, hành động cụ thể. Trong đó cần đặc biệt coi trọng việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài,phát triển nguồn nhân lực phải gắn với nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân, chính sách tiền lương và bảo đảm an sinh xã hội.
Thứ hai, đẩy mạnh triển khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội gắn với giải quyết việc làm. Cần huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển theo hướng khuyến khích, đa dạng hóa các loại hình sản xuất kinh doanh, các hình thức sở hữu, coi phát triển doanh nghiệp là động lực chủ đạo để tạo việc làm, đặc biệt là việc làm với thu nhập ổn định. Đẩy mạnh phát triển nông thôn theo hướng phi nông nghiệp, trực tiếp tạo nhiều việc làm ổn định, bền vững cho lao động nông thôn; đẩy mạnh việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
Thứ ba, hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội thông qua sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm xã hội, tập trung nghiên cứu hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện. Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ các chính sách về bảo hiểm y tế, viện phí và khám chữa bệnh.
Thứ tư, thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo bền vững, trong đó trọng tâm là triển khai có hiệu quả Nghị quyết 80 của Chính phủ và Chương trình quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2011 – 2015 với các chính sách và giải pháp thiết thực, đồng bộ cả về hỗ trợ phát triển sản xuất và đời sống, tạo việc làm, tiếp cận thị trường; nâng cao khả năng tự vươn lên thoát nghèo bền vững của người dân.
Thứ năm, thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với người có công và chính sách trợ giúp xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội. Tiếp tục hoàn chỉnh các chính sách và nâng cao chế độ ưu đãi đối với người có công, phù hợp với sự phát triển kinh tế; đồng thời hỗ trợ các gia đình người có công phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập; vận động toàn xã hội tham gia phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, bảo đảm cho những người có công có mức sống cao hơn mức trung bình của dân cư cùng địa bàn.
Hoàn thiện các chính sách và phát triển hệ thống trợ giúp xã hội linh hoạt, ứng phó có hiệu quả với các biến cố, rủi ro, theo hướng cùng với việc tăng cường trợ giúp thường xuyên và đột xuất từ ngân sách nhà nước, phải đẩy mạnh xã hội hoá, đa dạng các kênh và hình thức trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội tự nguyện, nhân đạo dựa vào cộng đồng với sự tham gia rộng lớn của các doanh nghiệp, của xã hội và tranh thủ sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế. Tiếp tục mở rộng đối tượng và điều kiện hưởng thụ trợ giúp xã hội đến toàn bộ các nhóm dân cư dễ bị tổn thương như người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người già cô đơn, không nơi nương tựa. Đẩy mạnh việc chủ động phòng chống và ứng phó kịp thời có hiệu quả thiên tai, tác động của biến đổi khí hậu nhằm hạn chế thiệt hại về người và của, nhất là những vùng thường xuyên xảy ra bão lũ; nghiên cứu hình thành các quỹ dự phòng và cơ chế trợ giúp tại các địa phương để hỗ trợ kịp thời cho nhân dân khi có rủi ro đột xuất.
Thứ sáu, phát triển đa dạng hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là giáo dục, y tế, nước sạch, bảo đảm công bằng, bình đẳng cho mọi người và thoả mãn những nhu cầu thiết yếu về vật chất và tinh thần của người dân, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp dân cư, các nhóm xã hội và các vùng miền. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, nhất là ở các vùng nghèo, đặc biệt khó khăn; đồng thời hoàn thiện các chính sách về miễn giảm học phí, học bổng, tín dụng ưu đãi cho người học. Quan tâm hơn nữa đến công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em.

Nguyễn Thị Kim Ngân

Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội

Xem