Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Mức lương tối thiểu phải đáp ứng nhu cầu tối thiểu

13/03/2012

Theo Chương trình, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) được Chính phủ giao cùng Ban Chỉ đạo tiền lương Nhà nước chuẩn bị Đề án cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội (BHXH) và trợ cấp ưu đãi đối với người có công trong giai đoạn 2012 – 2020

Đề án này sẽ được đưa ra Trung ương thảo luận và sau đó Chính phủ sẽ triển khai các hoạt động cụ thể. Phóng viên Tạp chí Lao động và Xã hội đã có cuộc phỏng vấn Thứ trưởng BLĐTBXH Phạm Minh Huân về một số nội dung cơ bản trong Đề án quan trọng nêu trên.

- Thưa Thứ trưởng, trong Đề án cải cách chính sách tiền lương, BHXH và trợ cấp ưu đãi người có công, Bộ LĐTBXH được phân công nghiên cứu, xây dựng những nội dung cụ thể gì?
Trong Đề án cải cách chính sách tiền lương, BHXH và trợ cấp ưu đãi người có công, Bộ LĐTBXH được phân công nghiên cứu, xây dựng và trình Chính phủ 5 vấn đề: Đề án về tiền lương tối thiểu (TLTT); Đề án về quan hệ tiền lương giữa tiền lương tối thiểu, trung bình và tối đa, tạo ra cái khung làm căn cứ thiết kế hệ thống thang bảng lương; Vấn đề tiền lương của khu vực sản xuất kinh doanh; Cải cách BHXH; Cải cách chính sách trợ cấp ưu đãi đối với người có công.

- Xin Thứ trưởng cho biết việc cải cách tiền lương tối thiểu sẽ bao gồm những nội dung gì?
Năm 2010, chúng ta đã thực hiện tách TLTT, thực hiện đúng vai trò của nó trong cơ chế thị trường, tức là bảo đảm nhu cầu tối thiểu. Sắp tới chúng ta phải thực hiện những công việc sau: Thứ nhất là luật hóa những qui định về TLTT. Hiện nay trong BLLĐ sửa đổi chúng ta đã đưa qui định về TLTT trong chương về tiền lương,khẳng định trong luật vai trò của TLTT là bảo đảm mức sống tối thiểu cho bản thân người lao động và gia đình họ, những người mà họ trực tiếp nuôi dưỡng. Thứ hai là chúng ta phải điều chỉnh TLTT khi có những biến động. Thứ ba là phải thực hiện cơ chế các bên. Trong Luật cũng đưa ra mô hình Ủy ban hoặc Hội đồng của các bên, giữa Chính phủ (CP), đại diện của người sử dụng lao động, đại diện người lao động có chức năng cùng bàn bạc để tư vấn cho CP, Thủ tướng CP trước khi quyết định tăng lương tối thiểu.

Trong Luật đã qui định thêm là trong điều kiện hiện nay có rất nhiều loại lao động (LĐ) làm việc không trọn thời gian nên phải nghiên cứu xây dựng mức lương tối thiểu giờ, tất nhiên mức lương này trước mắt chỉ áp dụng cho một số công việc, sau đó mới mở rộng.
Trong Đề án chung sẽ trình ra Trung ương chúng ta sẽ nêu vấn đề mức lương tối thiểu đáp ứng nhu cầu tối thiểu. Muốn như vậy phải phối hợp với Tổng cục Thống kê tính toán lại nhu cầu tối thiểu đó là gì? Tổng cục Thống kê cần công bố mức sống tối thiểu làm căn cứ để xác định, tính toán các nhu cầu tối thiểu, tất nhiên nhu cầu này phải gắn với điều kiện kinh tế - xã hội ở một nước mà thu nhập bình quân đầu người còn đang thấp.

Thời gian điều chỉnh TLTT phải được tính toán cho phù hợp, nhưng trước hết phải căn cứ vào mức tăng chỉ số giá tiêu dùng để bảo đảm tiền lương thực tế, đồng thời phải tính đến những biến động của mặt bằng tiền công trên thị trường. Thứ ba, là phải tính đến khả năng của nền kinh tế, tức là tốc độ phát triển kinh tế.

- Vấn đề quan hệ tiền lương sẽ được đổi mới theo hướng nào, thưa Thứ trưởng?
Chúng ta phải mở rộng quan hệ tiền lương để trong thiết kế bảo đảm giảm tính bình quân trong các mức lương. Tất nhiên việc cải cách quan hệ tiền lương này phục vụ trước hết và trực tiếp nhất là trong khu vực hành chính Nhà nước. Từng bước sẽ thiết kế lại để giảm tính bình quân, đưa tiền lương khu vực này tiếp cận với mức lương của thị trường.

Đối với tiền lương ở khu vực doanh nghiệp chúng ta phải thực hiện theo nguyên tắc của thị trường, hình thành theo cơ chế thỏa thuận, giữa một bên là người sử dụng lao động (NSDLĐ), một bên là người LĐ, tuân theo qui luật của thị trường. Có hai qui luật chi phối rất lớn đến tiền lương, đó là qui luật giá trị và qui luật cung – cầu. LĐ càng có trình độ chuyên môn cao, nhu cầu thị trường lớn, mà khả năng cung hạn chế thì người lao động (NLĐ) sẽ có mức lương cao. Ngược lại, cầu LĐ trình độ chuyên môn thấp, nguồn cung rất lớn, vượt quá nhu cầu của thị trường thì sẽ ép tiền lương, tiền công xuống. Thực tế có thể thấy rất rõ ở ngành da giày, dệt may, các lĩnh vực thâm dụng lao động nhưng tiền lương rất thấp, đời sống của một bộ phận NLĐ làm việc trong những ngành này đang rất khó khăn.
Trong khu vực sản xuất kinh doanh hiện nay chúng ta còn khoảng 1.300 doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) , chúng ta phải xác định trong khu vực này cũng phải từng bước chuyển sang cơ chế thị trường, phải tạo điều kiện cho NLĐ và NSDLĐ cũng phải thỏa thuận và tự xây dựng hệ thống thang bảng lương của mình. Cái quan trọng là phải đổi mới cơ chế quản lý trong khu vực doanh nghiệp, làm sao tiền lương phải gắn với năng suất lao động và hiệu quả của doanh nghiệp. Bên cạnh đó phải chú ý đến tiền lương của bộ máy quản lý để làm sao gắn được với sự đóng góp, từng bước tiếp cận với thị trường. Hiện nay, lương của CEO trên thị trường lao động ở một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh có mức lương rất cao. Khu vực doanh nghiệp có vốn Nhà nước phải tính đến chuyện phải thí điểm thuê giám đốc để gắn quyền lợi với trách nhiệm rõ ràng, làm sao bảo toàn và phát triển được vốn của Nhà nước, tạo ra lợi nhuận, việc làm, thu nhập cho NLĐ. Đó là những áp lực đang đặt ra đối với những nhà quản lý
- Những vấn đề đặt ra trong định hướng cải cách bảo hiểm xã hội như thế nào, thưa Thứ trưởng?
Thực hiện chính sách an sinh xã hội (ASXH) là chủ trương rất lớn của Đảng và Nhà nước ta. Chúng ta đã xây dựng Luật BHXH, xây dựng các loại hình bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, nhưng có thể nói so với yêu cầu chúng ta phải tiếp tục hoàn thiện, đổi mới rất nhiều. Theo tôi, có 5 vấn đề chúng ta phải tập trung giải quyết:

Thứ nhất là mở rộng đối tượng tham gia BHXH. Tính đến quí 4/2014 chúng ta sẽ thực hiện BHYT toàn dân, nhưng hiện nay BHXH kể cả BHXH bắt buộc và tự nguyện mới có 20% tổng số lao động tham gia, còn 80% NLĐ trong độ tuổi LĐ chưa tham gia. Chúng tôi đang cân nhắc, tính toán đưa ra mục tiêu đến năm 2020 chúng ta phải đưa tỷ lệ người trong độ tuổi LĐ tham gia BHXH lên bao nhiêu, 40% - 45%, thậm chí phải tiến đến tỷ lệ 70 - 80% người trong độ tuổi tham gia BHXH.

Thứ hai là phải tính toán đến cân đối quĩ bảo hiểm bắt buộc, trong đó quỹ hưu trí là vấn đề đáng lo lắng nhất. Quỹ hưu trí dài hạn là vấn đề tính hôm nay để cho 30 – 40 năm sau. Hiện các nước phải đang đối mặt với vấn đề toàn cầu hóa và già hóa dân số, nhiều nước có giải pháp tăng đóng, và tính đến việc giảm hưởng. Tăng đóng có 2 cách: Tăng tỷ lệ đóng, cái này hiện nay chúng ta đã thực hiện một bước. Năm 2014 thực hiện tăng đóng ở cả NSDLĐ và NLĐ là 32,5%. Nếu tăng nữa thì cả hai bên đều không chịu được và phải tính toán tiếp. Hoặc phải kéo dài thời gian đóng, tức là phải tăng tuổi, hiện nay chúng ta đang qui định nữ về hưu năm 55 tuổi, nam 60 tuổi, sau này có thể nữ phải tăng lên 57- 58, thậm chí 60 tuổi. Nam có thể nghỉ hưu ở tuổi 62 – 63. Ở một số nước phát triển đã thực hiện độ tuổi bình quân là 65. Một vấn đề nữa phải suy nghĩ đến làm giảm tỷ lệ hưởng. Tuy nhiên mức lương của chúng ta rất thấp, không thể giảm ngay xuống 50 – 60%. Có thể phải tính toán về hưu ở tuổi 62 – 63 thì mới được hưởng đủ 75%, còn về hưu trước tuổi thì chỉ được hưởng mức thấp hơn. Vấn đề này đang phải tính toán, với mức đóng, mức hưởng và tuổi thọ của chúng ta hiện nay quỹ hưu trí sẽ tồn tại được bao lâu. Ở đây còn có yếu tố nữa là phải hoạt động đầu tư thế nào để bảo toàn và phát triển được quỹ do NLĐ và NSDLĐ đóng góp, đây là vấn đề rất khó!

Thứ ba là phải thực hiện tách BHXH ở khu vực công chức, lực lượng vũ trang, và khu vực thị trường. Hiện nay, Nghị quyết Trung ương đã nêu nhưng chúng ta chưa bàn cụ thể vấn đề này. Cái quan trọng nhất là phải tách khu vực thị trường – đây là khu vực đang sử dụng số lượng lớn LĐ, trong 15 triệu LĐ ở khu vực công chức, lực lượng vũ trang chỉ có khoảng 3 triệu người, khu vực thị trường chiếm hơn chục triệu LĐ, vì vậy phải có hệ thống bảo hiểm XH, ASXH khác, chủ yếu dựa vào sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ.

Thứ tư, khi tách được khu vực thị trường rồi thì chúng ta sẽ hình thành nên Quỹ hưu trí bổ sung, Quỹ này trước hết nhằm vào những doanh nghiệp có thu nhập cao, NLĐ và NSDLĐ sẽ bớt một phần thu nhập đóng góp vào quỹ đó, để sau này khi nghỉ hưu ngoài tiền lương hưu còn có khoản thu nhập khác bảo đảm tuổi già. Hiện Bộ đang giao cho Vụ BHXH xây dựng Đề án, và sắp tới sẽ phối hợp với một số chuyên gia nghiên cứu trình Chính phủ để trước mắt cho làm thí điểm ở một số doanh nghiệp, xem mức đóng, mức hưởng, cơ chế tổ chức quản lý thế nào để có kinh nghiệm và năm 2014 đưa một số điều vào Luật BHXH. Nếu có thể được thì năm 2015 sẽ mở rộng thực hiện đại trà.

Thứ năm là đổi mới tổ chức BHXH, tất nhiên hiện nay nước ta mới chỉ có một tổ chức BHXH nhưng hiện đối tượng còn đang ít, về sau đối tượng nhiều lên và đa dạng hơn thì chúng ta phải suy nghĩ đến việc ngoài tổ chức BHXH hiện nay có thể sẽ hình thành nên các tổ chức BHXH khác, miễn làm sao đạt được mục tiêu bảo đảm được quyền lợi cho người tham gia với chi phí thấp nhất. Còn đối với tổ chức BHXH hiện nay thì cần phải tiến hành đổi mới tổ chức hoạt động, đưa công nghệ thông tin vào quản lý để tiết kiệm LĐ sống, bảo đảm quản lý vừa chặt chẽ, hiệu quả hơn và chi phí bỏ ra thấp hơn.

- Xin Thứ trưởng cho biết những nét cơ bản trong trong cải cách chế độ trợ cấp đối với người có công?
Trong lĩnh vực người có công chúng ta phải giải quyết nhiều vấn đề, nhưng trợ cấp đối với người có công là quan trọng nhất. Chúng ta cần tổ chức tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách đối với NCC trong 10 năm qua để xem xét những nội dung cần sửa đổi. Năm 2012 thực hiện sửa đổi Pháp lệnh Ưu đãi NCC, chúng ta phải xem trong thời gian tới, khi kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển, Nhà nước có điều kiện quan tâm hơn nữa đến NCC thì phải thiết kế các chính sách như thế nào để thực hiện được mục tiêu và chủ trương Đảng và Nhà nước ta đã đề ra. Còn hiện nay, do khả năng ngân sách còn hạn hẹp nên chúng ta mới đáp ứng được một phần, nhưng nhìn chung có thể nói đời sống của NCC và gia đình họ thời gian qua rất ổn định, nhưng sau này khi có điều kiện thì chúng ta sẽ chăm lo tốt hơn. Đó là tư tưởng chính, sau này Bộ sẽ phải xây dựng những đề án cụ thể.

Tất cả những đề án mà tôi đã nêu trên cần phải được xem xét về nguồn lực, chi phí như thế nào, ngân sách Nhà nước phải bỏ ra bao nhiêu, từ đó nếu nhận thấy khả năng ngân sách chưa đáp ứng được ngay thì chúng ta phải xây dựng lộ trình, bước đi cho phù hợp./.
Thảo Lan (thực hiện)

Xem