Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Chung tay góp sức vì sự an toàn của trẻ em

16/12/2011

Tai nạn và thương tích (TN&TT) hiện đang là vấn đề mang tính toàn cầu và hậu quả của nó để lại khá nặng nề đối với nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là những nước chậm phát triển do tiềm ẩn nhiều nguy cơ và khả năng ứng phó kém (95% trong tổng số 900.000 trẻ em tử vong hàng năm vì TN&TT xảy ra tại các nước thu nhập thấp và trung bình, cao gấp 3 lần các nước phát triển).

Ở Việt Nam, năm 2001, Chính phủ ban hành chính sách quốc gia về phòng chống TNamp;TT, coi phòng ngừa tai nạn và thương tích là một trong những vấn đề xã hội ưu tiên trong kế hoạch phát triển 5 năm và giảm gánh nặng thương tích ở trẻ em là một trong những mục tiêu mà Chương trình Hành động quốc gia vì trẻ em 2001-2010 đưa ra, phù hợp với mục tiêu trong Chương trình Thế giới phù hợp cho trẻ em. Các hoạt động nâng cao năng lực trong xây dựng, triển khai kế hoạch hành động về phòng chống TNamp;TT được thực hiện trong cả nước và đã có 7 chương trình, 11 dự án liên quan đi vào hoạt động. Mọi nỗ lực nhằm cải thiện sự an toàn cho trẻ em được thực hiện đồng bộ, như năm 2006, Bộ Y tế đã đề ra các tiêu chí an toàn cộng đồng áp dụng trên toàn quốc, kết quả là tính đến 2009 đã có 8 xã được đánh giá và công nhận là “Cộng đồng an toàn cấp quốc tế” và 34 xã/phường được công nhận là “Cộng đồng an toàn cấp quốc gia”; Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng ban hành quyết định về an toàn học đường năm 2007 nhằm tăng cường an toàn môi trường học đường cho học sinh; Năm 2008, Bộ Y tế tiếp tục thông qua Kế hoạch Hành động Phòng chống thương tích đến năm 2010 và định hướng đến 2020; Tháng 6/2007, Chính phủ ban hành Nghị quyết 32/2007/NQ-CP nhằm tăng cường an toàn giao thông, giảm ùn tắc và quan trọng hơn cả là giảm thương tích do tai nạn giao thông. Lãnh đạo các Uỷ ban của Quốc hội, các bộ ngành, đoàn thể và hội đồng nhân dân một số tỉnh đã tham gia thảo luận về vấn đề thương tích trẻ em và đề xuất biện pháp trong một hội nghị cấp cao do Quốc hội chủ trì vào tháng 2/2008. Từ giữa năm 2007, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội được giao chủ trì điều phối công tác phòng chống tai nạn và thương tích trẻ em, xây dựng kế hoạch hành động phòng chống thương tích trẻ em cho các năm 2008-2010 và đã xây dựng một kế hoạch liên ngành về phòng chống đuối nước.

Theo thống kê chưa đầy đủ, trong giai đoạn 2005 – 2010, trung bình mỗi năm nước ta có khoảng hơn 7.300 trẻ em và vị thành niên từ 0 – 19 tuổi chết do TNamp;TT, bình quân là mỗi ngày cả nước có 20 trẻ tử vong. Thực trạng này là do nhận thức của các cấp, các ngành và cộng đồng về phòng chống TNamp;TT còn hạn chế; các quy định về an toàn phòng chống TNamp;TT còn thiếu và chưa đồng bộ; việc thực thi còn hạn chế; ngân sách dành cho công tác này chưa được đảm bảo thường xuyên. TNamp;TT để lại hậu quả nặng nề cho xã hội, làm mất đi quyền sinh tồn và phát triển của trẻ, để lại nỗi đau về tinh thần cho các gia đình. Nhiều em bị tàn tật suốt đời và mất đi cơ hội phát triển như bạn bè trang lứa, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Đồng thời, hệ luỵ tất yếu đè lên nền kinh tế, các ước tính sơ bộ cho thấy, chi phí do TNamp;TT gây ra là khoảng 30.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2005 – 2007, trong đó, chi phí cho các nạn nhân trẻ em là 11.000 tỷ đồng.

Một khảo sát gần đây của tổ chức UNICEF đã chỉ ra rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thương tích trẻ em. Cụ thể, trẻ em ở nhà một mình hoặc thiếu sự giám sát của người lớn, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, chủ yếu làm nghề nông, bố mẹ không có thời gian chăm nom nên các cháu tự sinh hoạt, tự lo mọi việc. Sự thay đổi cơ cấu gia đình đã hình thành nên nhiều gia đình hạt nhân và mô hình gia đình truyền thống nhiều thế hệ (thường có nhiều người để trông nom trẻ) đã dần dần mất đi. Mặc dù đã có các nhà trẻ và trường mẫu giáo, nhìn chung đều là những môi trường an toàn cho trẻ nhưng tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi đi mẫu giáo ở nông thôn còn thấp hơn đáng kể so với thành thị, nhất là ở những gia đình khó khăn về kinh tế. Lí do là những gia đình này không đủ tiền gửi con ở nhà trẻ hoặc mẫu giáo, và tại vùng nông thôn thường có ít cơ sở nuôi dạy trẻ hơn ở thành thị.

Môi trường sống thiếu an toàn, nhất là đối với trẻ em ở những nơi gần sông ngòi, kênh rạch, ao mương, gần biển hoặc ở những vùng có nguy cơ lũ lụt cao thường có nhiều nguy cơ dễ bị đuối nước. Ở nông thôn luôn có nhiều nguy cơ thương tích cho trẻ vì cơ sở vật chất hạn chế, nghèo nàn. Ví dụ, nhiều cây cầu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long rất nhỏ, cũ và không có tay vịn. Rất nhiều con đường ở vùng nông thôn nhỏ hẹp, gồ ghề và không có ánh sáng vào buổi tối làm trẻ em có nguy cơ bị ngã. Tình trạng thiếu sân chơi cho trẻ là một vấn đề nữa góp phần giảm an toàn cho trẻ. Ngoài ra, những hoạt động hàng ngày của trẻ cũng còn gặp rất nhiều vấn đề do môi trường xung quanh, nhiều trẻ tiếp xúc với thuốc trừ sâu, hệ thống điện và khu vực bếp thiếu an toàn. Hơn nữa, một số nơi còn sót lại nhiều bom mìn và vật liệu nổ là nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của các em. Bên cạnh đó, liên quan trực tiếp tới tình trạng đuối nước ở trẻ là do các em không được dạy bơi và có 76% số người được hỏi trong một cuộc khảo sát cho rằng không biết bơi chính là nguyên nhân hàng đầu gây đuối nước.

Cha mẹ chưa nhận thức đầy đủ về nguy cơ thương tích, vì nhiều nguyên nhân, có thể xuất phát từ một phút lơ là, ít quan tâm hoặc họ đã bỏ qua một số việc đơn giản nhằm tạo ra môi trường an toàn cho trẻ, ví dụ không đậy nắp giếng, bể nước, không trông coi bếp lò hoặc để chất hóa học, thuốc trừ sâu, nồi canh, phích nước nóng gần tầm với của trẻ. Ngoài ra, một số cha mẹ thường mang con nhỏ đến chỗ làm việc, thậm chí trên tàu thuyền như ở các gia đình hành nghề chài lưới, làm tăng nguy cơ chết đuối ở trẻ em.

Một số trẻ nhỏ phải làm việc cũng chính là một trong những nguyên nhân gây thương tích trẻ em ở những vùng nông thôn nghèo. Do không lường trước được các nguy cơ, thiếu kỹ năng hoặc kém sức khoẻ, nhiều em đã bị thương tích nghiêm trọng hoặc bị tai nạn khi làm việc. Ví dụ, nhiều em gái đã bị bỏng khi giúp cha mẹ nấu cơm, nhiều em trai bị thương bởi các vật sắc nhọn đâm vào khi giúp cha mẹ thu hoạch mùa màng…. Do điều kiện kinh tế, nhiều trẻ không được điều trị đúng hướng, không được đưa tới các cơ sở y tế nên thực tế, số liệu TNamp;TT trẻ em không phải hoàn toàn chính xác do chưa đủ nguồn cung cấp.

Thiếu luật pháp, quy định cụ thể là một vấn đề quan trọng trong phòng chống thương tích trẻ em. Đơn cử như luật giao thông hiện nay đã quy định đội mũ bảo hiểm bắt buộc khi đi xe máy nhưng người lớn thì thường né tránh thực hiện, và quan trọng hơn, họ chưa ý thức được tầm quan trọng trong bảo vệ chính con em mình khi lưu thông trên đường.

Một thực tế nữa là nhận thức còn thấp của các nhà hoạch định chính sách cũng như của cộng đồng các nhà tài trợ về hậu quả của thương tích trẻ em, tỷ lệ tử vong và mắc bệnh do thương tích, cũng như gánh nặng kinh tế mà gia đình và xã hội phải gánh chịu. Đây cũng là một yếu tố nữa góp phần vào việc tình trạng thương tích ở trẻ em chưa được giải quyết một cách triệt để.

Chúng ta khẳng định việc triển khai thực hiện chính sách quốc gia về phòng chống TNamp;TT thời gian qua đã đạt được những kết quả thiết thực, quan trọng, song vẫn còn rất nhiều hạn chế, thách thức khi tình hình TNamp;TT trẻ em vẫn ở mức cao và diễn biến thất thường, tỷ suất tử vong tính trên 100.000 trẻ vẫn có xu hướng tăng. Đến năm 2010, vẫn còn 20 tỉnh chưa có Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách quốc gia, 10 tỉnh/thành chưa xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện. Việc thu thập thông tin, giám sát, báo cáo số liệu không đầy đủ, đồng bộ và độ tin cậy không cao, dẫn đến nguồn lực tài chính và nguồn lực con người cho công tác này còn quá hạn chế. Bên cạnh đó, các chương trình, chính sách mới chỉ được thực hiện ở phạm vi từng bộ, ngành, chưa có sự lồng ghép, phối kết hợp chặt chẽ để tạo nên hiệu ứng như mong đợi.

Nhằm đảm bảo quyền sinh tồn và phát triển của trẻ, thực hiện Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Chỉ thị 1408 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác trẻ em và trước thực tế tình hình TNamp;TT trẻ em hiện nay, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các bộ, ngành và được sự hỗ trợ kỹ thuật của tổ chức UNICEF, đã tiến hành xây dựng Chương trình Phòng chống Tai nạn và thương tích trẻ em Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 và dự kiến trình Chính phủ phê duyệt trong năm nay.

Mục tiêu chương trình hướng đến là đẩy mạnh việc nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng xã hội; tăng cường trách nhiệm của các bộ, ngành và các tổ chức trong việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy phòng chống TNamp;TT trẻ em, trên cơ sở hoàn thiện khuôn khổ luật pháp, chính sách và các tiêu chuẩn, quy chuẩn. Từng bước hạn chế TNamp;TT, đặc biệt là tai nạn đuối nước, tai nạn giao thông và trên các địa điểm thường xảy ra tai nạn đối với trẻ em, đặc biệt là ở gia đình và trường học. Những mục tiêu cụ thể là trong vòng 5 năm giảm được 20% số vụ TNamp;TT trẻ em và giảm tử vong do TNamp;TT của trẻ xuống dưới 25/100.000; thực hiện xã hội hoá công tác phòng chống TNamp;TT trẻ em, tạo ra sự quan tâm sâu sắc của các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội và của toàn dân; ít nhất 30% các hộ gia đình có trẻ em đạt tiêu chí “Ngôi nhà an toàn”, 25% trường học đạt tiêu chuẩn “Trường học an toàn” và 25% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn “Cộng đồng an toàn”; nâng cao năng lực triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch, dự án và kỹ năng thực hành phòng chống TNamp;TT trẻ em cho đội ngũ cán bộ ở tất cả các cấp, các ngành có liên quan; từng bước hoàn thiện hệ thống khuôn khổ luật pháp, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn và hệ thống theo dõi thu thập thông tin, báo cáo, đánh giá về TNamp;TT trẻ em ở các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở.

Tin rằng, chương trình sau khi được hoàn thiện, thống nhất ý kiến đóng góp của các bộ, ngành và đi vào hoạt động sẽ góp phần xây dựng môi trường an toàn, giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ gây TNamp;TT trẻ em, giảm thiểu khoản chi phí khổng lồ của Nhà nước và các gia đình. Đồng thời, thực hiện quyền sinh tồn, phát triển toàn diện của trẻ và thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, đúng như thông điệp của chương trình: “Chung tay góp sức vì sự an toàn của trẻ em”.

Doãn Mậu Diệp

Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Xem