Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Một số đề xuất kiến nghị hoàn thiện các chức danh viên chức công tác xã hội

18/08/2014

Trong những năm qua, hệ thống luật pháp, chính sách về an sinh xã hội ở nước ta đã được hình thành và từng bước hoàn thiện, bao trùm các nhu cầu cơ bản của đối tượng về nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng và hướng nghiệp. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách mới về bảo trợ xã hội nhằm từng bước nâng cao mức trợ cấp, mở rộng đối tượng được trợ giúp, tạo cơ hội thuận lợi để họ tiếp cận các chính sách, dịch vụ xã hội cơ bản. Hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân viên làm công tác xã hội (CTXH) cũng ngày càng phát triển theo hướng tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng. Theo thống kê, hiện nước ta có 556 cơ sở trợ giúp xã hội, trong đó có 169 cơ sở bảo trợ xã hội công lập, 233 cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập; 32 tỉnh, thành phố đã thành lập trung tâm công tác xã hội; 124 trung tâm giáo dục lao động xã hội; 30 trung tâm điều dưỡng người có công. Hệ thống cơ sở này đang chăm sóc và nuôi dưỡng trên 41.000 đối tượng bảo trợ xã hội với khoảng 15.000 cán bộ, viên chức.

 Song bên cạnh đó, lực lượng cán bộ, nhân viên trong các cơ sở trợ giúp xã hội hiện vẫn còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc, trợ giúp đối tượng. Hầu hết cán bộ, nhân viên đều phải làm việc thêm giờ, làm ca đêm. Đặc biệt, tại các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa cơ sở vật chất của các cơ sở trợ giúp xã hội bị xuống cấp, thiếu trang thiết bị; đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác chăm sóc, trợ giúp đối tượng bảo trợ xã hội chưa được sắp xếp, bố trí phù hợp, chưa đáp ứng được nhu cầu trợ giúp xâ hội của đối tượng. Mặt khác, hệ thống pháp luật hiện hành chưa quy định đầy đủ các mã số ngạch, tiêu chuẩn nghiệp vụ về các ngạch viên chức CTXH. Điều này đã ảnh hưởng tới tâm lý, hiệu quả giải quyết công việc của các viên chức trong các cơ sở trợ giúp xã hội. Hiện nay, tại nhiều nước trên thế giới, các dịch vụ xã hội có sự tham gia đông đảo của đội ngũ viên chức xã hội được đào tạo ở các trình độ cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ. Tính chuyên nghiệp của đội ngũ viên chức xã hội được thể hiện rất rõ nét trong việc huy động nguồn lực, phát huy tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng và cả quốc gia. Do vậy, hoạt động của đội ngũ viên chức xã hội không chỉ tạo ra sự phát triển bền vững mà còn góp phần đáng kể cho việc giảm tải ngân sách Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề an sinh xã hội.
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, vai trò của đội ngũ viên chức, đặc biệt là các viên chức CTXH cần được chú trọng, chuyên nghiệp hóa để nâng cao hiệu quả các dịch vụ trợ giúp cho đối tượng. Việc xây dựng các quy định về tiêu chuẩn viên chức và việc ban hành mã ngạch viên chức từ thấp đến cao gắn với các trình độ đào tạo tương ứng là cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình chuyên nghiệp hóa hoạt động của các cơ sở trợ giúp xã hội. Hiện số cán bộ, nhân viên công tác xã hội đang làm việc tại các cơ sở trợ giúp xã hội chưa được quy định đầy đủ mã số ngạch viên chức, tiêu chuẩn nghiệp vụ cụ thể, bao gồm công tác xã hội viên cao đẳng và công tác xã hội viên sơ cấp. Việc viên chức CTXH chưa được quy định đầy đủ mã số ngạch viên chức, tiêu chuẩn nghiệp vụ cụ thể đã bộc lộ những điểm hạn chế như: Không có hệ thống đầy đủ các chức danh, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ đối với viên chức đã tạo tâm lý không tốt vì họ thấy rằng công việc của họ vất vả, nguy hiểm đòi hỏi sự kiên nhẫn, nhiệt tình nhưng chưa được đánh giá đúng mức như đối với các ngành nghề khác. Nghề CTXH là một nghề phức tạp, đòi hỏi phải có các kỹ năng cao (biết lắng nghe, chia sẻ và thông cảm với những nỗi đau về thể chất và tinh thần của đối tượng phục vụ...) và phải làm việc trong điều kiện lao động nguy hiểm, độc hại (tiếp xúc với các đối tượng nhiễm HIV, tâm thần...). Tâm lý này đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành và phát triển nghề CTXH. Thêm vào đó, việc xếp lương, nâng ngạch, nâng bậc lương đối với nhân viên CTXH hiện rất khác nhau, cơ chế quản lý tiền lương, thu nhập không thống nhất. Việc vận dụng một số nghề của bảng lương hành chính, sự nghiệp cho nghề CTXH như hiện nay là không phù hợp, không đánh giá đúng giá trị công việc thực tế của họ. Ngoài ra còn chưa thể hiện được chính sách ưu đãi và tính đặc thù lao động của nhân viên CTXH.
Trên cơ sở nhu cầu thực tiễn và căn cứ theo Quyết định 32/2010/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010- 2020, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư 08/2010/TT- BNV quy định chức danh, mã số các ngạch viên chức CTXH gồm 3 chức danh là: Công tác xã hội viên chính (mã số 24.291), công tác xã hội viên (mã số 24.292) và nhân viên công tác xã hội (mã số 24.293). Cùng với đó, Bộ LĐ-TBXH đã ban hành Thông tư 34/2010/TT- BLĐTBXH quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH, trong đó quy định rõ các nhiệm vụ, tiêu chuẩn về năng lực, trình độ cho công tác xã hội viên chính, công tác xã hội viên và nhân viên CTXH. Tuy nhiên, Nghị định số 17/2013/NĐ- CP ngày 19/2/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 204/2004/ NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang đã bổ sung thêm 2 chức danh nghề nghiệp mới là: Công tác xã hội viên cao đẳng và công tác xã hội viên sơ cấp. Mặt khác, theo quy định tại Điều 3 Nghị định 29/2012/ NĐ-CP của Chính phủ quy định chức danh nghề nghiệp, viên chức được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp theo lắn lượt các hạng I, II, III, IV và theo Thông tư số 12/2010/TT- BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định về chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức, mỗi chức danh nghề nghiệp được kết cấu bao gồm: tên và hạng của chức danh nghề nghiệp; nhiệm vụ liệt kê chi tiết và cụ thể những công việc phải thực hiện có mức độ phức tạp phù hợp với hạng chức danh nghề nghiệp; tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp; tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng; tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.
Như vậy, hiện nay, có 2 loại ngạch viên chức công tác xã hội là công tác xã hội viên cao đẳng và công tác xã hội viên sơ cấp chưa được Bộ Nội vụ quy định chức danh, mã số ngạch viên chức và chưa được Bộ LĐ- TBXH ban hành Thông tư quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn. Căn cứ vào Nghị định 29/2012/NĐ- CP, Nghị định 17/2013/NĐ- CP và Thông tư 12/2010/TT- BNV, Bộ LĐ-TBXH đề nghị, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư quy định chức danh, mã số các ngạch viên chức CTXH thay thế Thông tư 08/2010/TT- BNV, gồm 05 chức danh, mã số các ngạch viên chức là: Công tác xã hội viên chính (mã số 24.291); công tác xã hội viên (mã số 24.292); công tác xã hội viên cao đẳng (mã số...); công tác xã hội viên sơ cấp (mã số...). Trên cơ sở đó, Bộ LĐ-TBXH sẽ ban hành Thông tư quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH thay thế Thông tư 34/2010/TT- BLĐTBXH quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH tương ứng với các chức danh, mã ngạch viên chức CTXH với các tiêu chuẩn ngạch bổ sung như sau:
- Công tác xã hội viên cao đẳng (mã số...): Là viên chức, có chuyên môn nghiệp vụ làm CTXH, chịu trách nhiệm thực hiện một số nghiệp vụ CTXH có yêu cầu cơ bản về lý thuyết, phương pháp và kỹ năng thực hành. Nhiệm vụ chính là hỗ trợ, sàng lọc, phân loại và tiếp nhận đối tượng; hỗ trợ đánh giá tâm sinh lý, tình trạng sức khỏe, nhân thân và các nhu cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội của đối tượng; tham gia xây dựng kế hoạch chăm sóc cho đối tượng; cung cấp một số dịch vụ CTXH đòi hỏi sử dụng ở mức độ cơ bản các lý thuyết, phương pháp và kỹ năng thực hành CTXH như: tham vấn, trị liệu, tư vấn, giáo dục, đàm phán, hòa giải, tuyên truyền...
Công tác xã hội viên cao đẳng phải có trình độ tốt nghiệp cao đẳng trở lên thuộc các chuyên ngành CTXH, xã hội học, tâm lý học hoặc các chuyên ngành khoa học xã hội khác phù hợp với nhiệm vụ CTXH; biết một số ngoại ngữ thông dụng ở trình độ A trở lên trong hoạt động chuyên môn; có trình độ tin học văn phòng loại A và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch CTXH viên theo chương trình do Bộ LĐ-TBXH ban hành. Ngoài ra, phải có tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ như có khả năng độc lập, thực hiện các nghiệp vụ CTXH trong phạm vi được phân công phù hợp với chuyên ngành đào tạo; có khả năng phối hợp với các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, khả năng tham gia hướng dẫn nghiệp vụ, phổ biến kinh nghiệm; nhận biết được nhu cầu trợ giúp của đối tượng và đề xuất các biện pháp giải quyết nhu cầu trợ giúp.
- Công tác xã hội viên sơ cấp (mã số...)
Là viên chức chuyên môn nghiệp vụ làm CTXH, tham gia thực hiện một số nghiệp vụ cụ thể trong quy trình CTXH có yêu cầu đơn giản về lý thuyết, phương pháp và kỹ năng thực hành theo sự phân công.
Công tác xã hội viên sơ cấp có nhiệm vụ: Tham gia việc tiếp nhận đối tượng theo sự phân công; trực tiếp thực hiện kế hoạch chăm sóc cho đối tượng và nhóm đối tượng trong phạm vi cụ thể được giao; tham gia đề xuất điều chỉnh kế hoạch hành động nếu cần thiết và kế hoạch ngừng chăm sóc đối với từng đối tượng theo sự phân công ; tham gia đánh giá các hoạt động chăm sóc, trợ giúp và đề xuất các biện pháp phù hợp trong phạm vi cụ thể được giao.
Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo và năng lực chuyên môn: Phải tốt nghiệp sơ cấp thuộc các chuyên ngành CTXH, có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ CTXH theo chương trình, nội dung do Bộ LĐ-TBXH ban hành; có khả năng độc lập, chủ động, kỹ năng thực hành nghiệp vụ CTXH theo sự phân công; khả năng làm việc theo nhóm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và kỹ năng chăm sóc đối tượng, kỹ năng phát hiện nhu cầu trợ giúp của đối tượng.
Tiêu chuẩn hóa vị trí, chức danh viên chức công tác xã hội là một bước hướng tới chuyên nghiệp nghề công tác xã hội; sắp xếp các vị trí việc làm khoa học tại các cơ sở trợ giúp xã hội, chuẩn bị cho việc chuyển xếp ngạch, thi nâng ngạch, giải quyết phụ cấp ưu đãi nghề và chuyển xếp lương trong thời gian tới.
ThS. Nguyễn Văn Hồi - Cục trưởng Cục Bảo trợ Xã hội
Xem