Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Một năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW một số vấn đề và chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020: Cơ hội và thách thức

01/05/2014

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực để phát triển nhanh và bền vững. Đặc biệt, ngày 1/6/2012 đánh dấu mốc quan trọng của sự kiện lần đầu tiên Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành một nghị quyết về chính sách xã hội với tên gọi “Nghị quyết 15-NQ/TW một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020”. Nghị quyết đặt mục tiêu “Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công, phấn đấu đến năm 2015 cơ bản bảo đảm gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn. Đến năm 2020, cơ bản bảo đảm an sinh xã hội toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân”.

Nghị quyết 15-NQ/TVV tập trung vào giải quyết các vấn đề thuộc 2 nhóm chính sách cơ bản, quan trọng trong hệ thống các chính sách xã hội là chính sách Ưu đãi người có công và chính sách an sinh xã hội. Qua một năm thực hiện, có thể rút ra những điểm cơ bản sau:
Những mặt được
Mặc dù kinh tế năm 2012-2013 vẫn bị giảm sút, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị thua lỗ, song an sinh xã hội về cơ bản vẫn được ưu tiên bảo đảm, đặc biệt Nghị quyết số 15-NQ/TW đã được các cấp ủy Đảng, các Bộ ngành, địa phương triển khai nghiêm túc, 100% địa phương đã xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 15-NQ/TW về chính sách xã hội giai đoạn 2012- 2020.
Hệ thống văn bản pháp luật về người có công và an sinh xã hội được ban hành kịp thời và đưa vào thực hiện, hoặc được bổ sung và hoàn thiện, đối tượng hưởng chính sách được mở rộng, mức hỗ trợ được nâng lên.
Năm 2013, nguồn vốn cho an sinh xã hội vẫn được ưu tiên đảm bảo: so với năm 2012, tổng nguồn vốn đấu tư cho các chương trình mục tiêu quốc gia chỉ giảm 0,1%; đẩu tư cho chương trình phát triển kinh tế-xã hội các vùng chỉ giảm 9,9%; đầu tư cho lĩnh vực xã hội nói chung tăng 0,3%. Bên cạnh đó, huy động vốn của địa phương, từ các đối tác xã hội được bổ sung và tăng cường.
Các lĩnh vực xã hội đã đạt được những thành tựu quan trọng, phần lớn các mục tiêu, chỉ tiêu đều hoàn thành, đặc biệt một số chỉ tiêu đã vượt so với kế hoạch (tốc độ giảm nghèo tại các huyện có tỷ lệ nghèo cao, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 tuổi trở lên, tỷ lệ dân số tham gia BHYT được Nhà nước hỗ trợ toàn bộ; tỷ lệ xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được phủ sóng phát thanh truyền hình mặt đất,...).
Đời sống vật chất và tinh thần của người có công, người nghèo, dân tộc thiểu số và các đối tượng yếu thế được cải thiện rõ rệt, lòng tin của nhân dân và sự ổn định chính trị - xã hội được tăng cường.
Chính sách ưu đãi người có công
Ngay sau khi Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được thông qua năm 2012, các văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh đã được ban hành đồng bộ và kịp thời. Các chính sách hỗ trợ về việc làm, vay vốn tín dụng và các chính sách ưu đãi khác đối với người và gia đình người có công được tăng cường và thực hiện ngày càng hiệu quả.
Công tác giải quyết tồn đọng chính sách, hỗ trợ người có công về nhà ở và công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ được đẩy mạnh; Mạng lưới trung tâm chăm sóc người có công được kiện toàn; Công tác đền ơn đáp nghĩa được đẩy mạnh. Đến nay có khoảng 98% số xã phường được công nhận làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ; tổ chức tốt hoạt động thăm tặng quà các đối tượng chính sách; dự kiến trong năm 2013 hoàn thành cơ bản hỗ trợ nhà ở cho 71.000 hộ; đời sống của người có công và gia đình người có công được cải thiện với 98,6% có mức sống trung bình trở lên.
Chính sách an sinh xã hội
1.       Về tạo việc làm, đảm bảo thu nhập tối thiểu và giảm nghèo
Quốc hội đã thông qua Luật Việc làm tạo cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện thể chế chính sách về việc làm, triển khai các chương trình đề án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012-2015; tiếp tục chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2015.
Từ đầu năm 2012 đến 31/8/2013, Ngân hàng Chính sách Xã hội thông qua 6 chương trình tín dụng ưu đãi đã cho 3.489 nghìn lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách được vay vốn tín dụng ưu đãi với mức vay bình quân đạt 15,4 triệu đồng/khách hàng, góp phấn giúp gần 1 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo, thu hút, tạo việc làm cho trên 237 nghìn lao động; hỗ trợ trên 563 nghìn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng trên 1.208 nghìn công trình cung cấp nước sạch, công trình nhà tiêu hợp vệ sinh nông thôn, gần 1 nghìn căn nhà cho hộ gia đình vượt lũ vùng đồng bằng sông Cửu Long, gần 460 nghìn căn nhà cho hộ nghèo...
Dù gặp nhiều khó khăn nhưng Chính phủ vẫn ưu tiên nguồn lực cho các chính sách và chương trình giảm nghèo, tập trung cho vùng đặc biệt khó khăn và dân tộc thiểu số, mở rộng các chính sách hỗ trợ đối tượng cận nghèo và mới thoát nghèo.
Giai đoạn 2012-2013, đã phê duyệt các Khung giảm nghèo và chương trình giảm nghèo: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015, Chương trình 135 về đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012-2015 (giai đoạn 3), bổ sung 23 huyện nghèo mới hưởng một số cơ chế, chính sách theo Nghị quyết 30a.
Đến nay, cơ bản đã hoàn thành mục tiêu mỗi năm giảm 2% tỷ lệ nghèo; tỷ lệ nghèo đến cuối năm 2013 ước còn 7,6%; riêng các huyện nghèo giảm khoảng 6% mỗi năm (cao hơn mức kế hoạch 4%); Thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo tăng khoảng 1,8 lần so với 2010; Cơ sở hạ tầng của các huyện, xã nghèo, xã bãi ngang; thực hiện chính sách hỗ trợ giá điện, hỗ trợ pháp lý cho người nghèo được tăng cường.
2.       Về bảo hiểm xã hội
Luật bảo hiểm xã hội tiếp tục sửa đổi và dự kiến sẽ trình Quốc hội thông qua năm 2014. Đến cuối năm 2013, dự kiến số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đạt 10.803.034 người (10.632.350 người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và 170.684 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện), bằng 20,2% lực lượng lao động; đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 8.535.222 người, bằng 15,7% lực lượng lao động.
3.       Về trợ giúp xã hội cho người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Hệ thống pháp luật, chính sách, các chương trình, đề án về chăm sóc, trợ giúp các đối tượng yếu thế tiếp tục được hoàn chỉnh, tạo điều kiện cho các đối tượng yếu thế tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; công tác chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hộ nghèo,... đã được các địa phương đưa vào Nghị quyết của các cấp ủy Đảng, HĐND các cấp. Đến cuối năm 2012, cả nước có khoảng 432 cơ sở bảo trợ xã hội (gồm 182 cơ sở công lập và 250 cơ sở ngoài công lập) tổ chức nuôi dưỡng trên 42 nghìn người, 2,6 triệu người đang được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên (trong đó trên 1,4 triệu người từ 80 tuổi trở lên, trên 600 nghìn người khuyết tật nặng và tâm thần).
Công tác trợ giúp đột xuất được tăng cường. Tính đến tháng 8 năm 2013, Nhà nước đã chi khoảng 42.090 tấn gạo cho 22 tỉnh khắc phục thiên tai, ổn định cuộc sống, đặc biệt là vào thời kỳ giáp hạt và Tết Nguyên Đán.
4.       Bảo đảm giáo dục tối thiểu
Năm 2012-2013, Chính phủ ban hành 4 chính sách hỗ trợ, góp phần nâng cao tiếp cận giáo dục cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đặc biệt khó khăn. Năm 2013, ước tính tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học, mẫu giáo 5 tuổi đạt trên 99,7%, tiểu học đạt 97,7%, trung học cơ sở đạt 88%, phổ thông trung học đạt 58%; tỷ lệ trẻ khuyết tật đi học đạt 58,4%; tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân đạt 58,4 người; tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 tuổi trở lên đạt 98,5%;
Sau 3 năm thực hiện, dự án đào tạo nghề cho lao động nông thôn, khoảng 1,09 triệu lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề, bình quân mỗi năm có 0,36 triệu lao động. Năm 2012, có 0,49 triệu lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề, trong đó, khoảng 74,2% tìm được việc làm. Năm 2013 dự kiến tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt trên 49%, trong đó qua đào tạo nghề trên 27%.
5.       Bảo đảm y tế tối thiểu
Ngày 10/01/2013,Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2012-2015; nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho một số đối tượng thuộc hộ cận nghèo, hỗ trợ 100% cho một số đối tượng thuộc hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia.
Năm 2013, dự kiến 97% phụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván và tỷ lệ được khám thai từ 3 lần trở lên đạt 84,4%; tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ đạt trên 90%, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi giảm còn 15,2%o; tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi là 22,1 %o; tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân giảm còn 15,73%, tỷ lệ người dân mắc bệnh lao giảm còn 205 người/100.000 dân; tuổi thọ trung bình của dân số Việt Nam đạt 74 tuổi; số ca nhiễm HIV đã giảm 31,5% so với năm 2001; tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS được điều trị ARV là 60% (72.711 người). Tính đến 30/6/2013, số trường hợp nhiễm HIV còn sống là 214.795 người và có 65.401 trường hợp tử vong do AIDS.
Chính sách bảo hiểm y tế toàn dân được tăng cường, số người tham gia bảo hiểm y tế tiếp tục tăng. Năm 2012 có 59,3 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, năm 2013 ước trên 60 triệu người chiếm 71,2% dân số, trong đó Nhà nước hỗ trợ kinh phí mua thẻ bảo hiểm y tế (hỗ trợ toàn bộ và hỗ trợ một phần) cho trên 70%, đặc biệt là đối tượng hộ nghèo và dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn, trẻ em dưới 6 tuổi được hỗ trợ 100%.
6.       Về bảo đảm nhà ở tối thiểu
Đã xây dựng chương trình hỗ trợ cho khoảng 71 nghìn hộ có công với cách mạng; xây dựng 700 chòi phòng tránh lũ lụt cho người dân khu vực bị ảnh hưởng bởi lũ lụt thuộc 7 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên.
Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2 về cơ bản hoàn thành; đã hoàn thành 50/95 dự án thuộc Chương trình phát triển nhà ở cho học sinh, sinh viên năm 2013 và khoảng 34 dự án sẽ hoàn thành vào tháng 6/2014; Chương trình phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp tại đô thị đã xây dựng 18.850 căn hộ và đang triển khai xây dựng 19.550 căn hộ trong năm 2014; Chương trình phát triển nhà ở xã hội cho công nhân tại các khu công nghiệp tập trung đã xây dựng 12.500 căn hộ năm 2013 và xây tiếp 27.500 căn hộ trong năm 2014.
7.       Về bảo đảm nước sạch
Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012-        2015 với 3 dự án: (1) cấp nước sinh hoạt và môi trường nông thôn; (2) Vệ sinh nông thôn; và (3) Nâng cao năng lực, truyền thông và giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình.
Đến cuối năm 2013, 82% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, mang lại những hiệu quả kinh tế và xã hội, góp phần nâng cao sức khoẻ của người dân, tiết kiệm sức người và thời gian lấy nước, cải thiện điều kiện vật chất.
8.       Bảo đảm thông tin
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giai đoạn 2012- 2015, mạng thông tin viễn thông đã cơ bản phủ khắp cả nước. Năm 2013, tỷ lệ xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được phủ sóng phát thanh ước đạt 99,8%; tỷ lệ xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được phủ sóng truyền hình đạt 99,8%; tỷ lệ xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có đài truyền thanh xã đạt 87%.
Một số điểm thách thức cần vượt -qua
Một số chỉ tiêu cơ bản không hoàn thành, đặc biệt trong lĩnh vực thị trường lao động và bảo hiểm xã hội (tỷ lệ người tốt nghiệp phổ thông trung học, tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề; tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực chính thức, tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội (bắt buộc, tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp).
Một số kết quả đạt được về số lượng, song chưa bền vững về chất lượng (chỉ tiêu tạo việc làm, thất nghiệp bảo đảm song tỷ lệ thiếu việc làm, không có việc làm thường xuyên, lao động làm trong khu vực phi chính thức tăng lên; chỉ tiêu giảm nghèo đạt, song tỷ lệ hộ tái nghèo và cận nghèo còn cao).
Chất lượng cung cấp dịch vụ an sinh xã hội còn nhiều vấn đề, đặc biệt tại các địa phương có tỷ lệ nghèo cao thuộc vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số; mức độ đạt được về chỉ tiêu an sinh xã hội giữa các nhóm dân cư, các địa bàn và các nhóm người nghèo và không nghèo có sự khác biệt lớn và có xu hướng gia tăng.
Đời sống của một bộ phận gia đình người có công người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn khó khăn, chưa bảo đảm được mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản; tình hình thiên tai biến động mạnh, thiếu đói giáp hạt gia tăng làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân.
Một số định hướng
Tiếp tục bổ sung hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật về người có công và an sinh xã hội; tập trung ưu tiên thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, học nghề, tạo việc làm, xây dựng nông thôn mới khuyến khích người nghèo tự chủ vươn lên thoát nghèo.
Bảo đảm bố trí nguồn vốn cho các chương trình và các mục tiêu an sinh xã hội theo tinh thần đảm bảo và công khai nguồn lực để thực hiện các mục tiêu về chính sách người có công và an sinh xã hội; đẩy mạnh xã hội hoá huy động nguồn lực cho việc thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Tiếp tục xây dựng và triển khai các đề án theo tinh thần Nghị quyết 70 theo đúng kế hoạch và đảm bảo chất lượng.
Xác định được các thách thức và tận dụng hiệu quả các cơ hội là cơ sở để các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể có các biện pháp, giải pháp điều chỉnh phù hợp kịp thời nhằm thực hiện thành công các nhiệm vụ mà Nghị quyết 15-NQ/TW đã đề ra, góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội - Nguyễn Trọng Đàm
Xem