Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Một số kết quả và định hướng triển khai đề án 32 năm 2013

28/02/2014

Nghề công tác xã hội (CTXH) là một nghề mới ở Việt Nam, hầu như mọi người còn lạ lẫm với tên gọi của nghề. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đất nước, nghề CTXH đã được công nhận là một nghề với nhiều công việc đáp ứng nhu cầu phục vụ xã hội.

Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cả nước hiện có trên 25 triệu trẻ em, chiếm 29% tổng dân số. Trong đó có 1,6 triệu em sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như mồ côi, khuyết tật, nạn nhân chất độc hóa học, nhiễm HIV/AIDS. . .

Tính đến hết năm 2012, cả nước đã có 32 tỉnh, thành phố có trung tâm CTXH; định hướng từ nay đến hết năm 2015, sẽ có trung tâm CTXH ở tất cả các tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Tình hình trên cho thấy, một nhu cầu cấp bách cần có đội ngũ cán bộ CTXH chuyên nghiệp có kiến thức chuyên sâu. Cục Bảo trợ Xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) cũng đã tiến hành khảo sát nhu cầu đào tạo cán bộ, viên chức và cộng tác viên CTXH trên 65.046 cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH ở 41 tỉnh thành. Kết quả cho thấy, mới chỉ có 48,7% đã được đào tạo, bồi dưỡng, trong đó 19,1% được đào tạo dài hạn chuyên môn, song rải rác ở nhiều ngành khác nhau như Tâm lý học, Xã hội học. Số người được đào tạo về CTXH chiếm chưa đến 10%. Sự thiếu hụt về trình độ, kiến thức chuyên môn CTXH trong làm việc với mỗi nhóm đối tượng cụ thể còn bức xúc hơn nhiều.

Có thể nói, rất nhiều người hoạt động trong lĩnh vực CTXH hiện nay chỉ làm việc theo kinh nghiệm và lòng thiện tâm mà chưa được đào tạo kỹ năng khoa học cần thiết về CTXH, hoặc chỉ được tham gia các lớp tập huấn ngắn hạn. Những tưởng việc thiếu trầm trọng nhân lực được đào tạo đúng chuyên môn như trên sẽ là cơ hội lớn cho sinh viên đã và đang theo học ngành CTXH. Nhưng thực tế không phải vậy.

Nghịch lý ai cũng thấy rõ là, trong khi hệ thống an sinh xã hội đa số lực lượng nhân sự chưa đạt trình độ chuyên nghiệp thì phần lớn sinh viên CTXH ra trường không được tuyển dụng chính thức để làm đúng ngành nghề đã học. Nếu may mắn được tuyển vào làm ở đâu đó lại không phát huy được kỹ năng nghề nghiệp.

Một trong những nguyên nhân của nghịch lý nói trên, theo giảng viên Đỗ Bích Thảo - Khoa CTXH Trường ĐHSP Hà Nội là do sinh viên ngành CTXH mới chỉ chạm ngưỡng “học để biết”, chưa thực sự “học để làm”. “Công tác đào tạo nghề CTXH còn một số bất cập như chương trình nặng về lý thuyết, thiếu đội ngũ giảng viên thực hành chuyên nghiệp, thiếu cơ sở thực hành nghề nghiệp. . . , dẫn đến sinh viên ngành CTXH mới chỉ chạm ngưỡng “học để biết” chứ chưa thực sự “học để làm”.

Đây cũng là một trong những lý do chính giải thích vì sao sinh viên ngành này khi ra trường khó xin được việc làm, trong khi nhu cầu xã hội về nhân viên chuyên nghiệp trong lĩnh vực này là rất lớn” - cô Thảo cho hay.

Ngoài số không tìm được việc làm, cũng không ít sinh viên được đào tạo về CTXH ra trường không muốn làm nghề mình đã được đào tạo bài bản. Nhiều nguyên nhân, trong đó có câu chuyện về nhận thức nghề nghiệp, cũng như nhìn nhận của xã hội với nghề này.

Theo ThS Lê Chí An - Trường ĐH Mở TP Hồ Chí Minh - mặc dù nghề CTXH ở nước ta ngày càng được chuẩn hóa và đào tạo một cách bài bản; Đã có chức danh, mã ngạch viên chức CTXH; Đề án phát triển nghề CTXH cũng được ban hành, nhưng nhìn chung xã hội chưa nhận thức đầy đủ về nghề nghiệp này. Do đó, sinh viên rất phân vân và ngần ngại khi nghe giới thiệu tuyển sinh ngành CTXH do không biết tương lai sẽ thế nào. Những sinh viên đã tốt nghiệp, đi làm cũng chưa thực sự hãnh diện về nghề nghiệp mình theo đuổi.

Một thực tế là, từ khi Bộ GD&ĐT ban hành mã đào tạo ngành CTXH trong hệ thống giáo dục ĐH, CĐ, số người được đào tạo trình độ ĐH, CĐ đã tăng lên nhiều. Nhưng phần lớn họ sau khi tốt nghiệp lại làm việc hoặc tiếp tục làm việc trong các cơ quan, ban ngành của nhà nước, trong các tổ chức chính quyền hoặc làm công việc nghiên cứu, giảng dạy mà không làm đúng ngành nghề đào tạo, gây sự lãng phí về nguồn nhân lực có chất lượng.

“Chúng ta rất cần sự công nhận của xã hội để những người làm CTXH chuyên nghiệp tự hào và hãnh diện về công việc đang gánh vác. Bên cạnh đó, nếu có một hội nghề nghiệp những người làm CTXH ra đời sẽ đảm bảo về mặt tinh thần và chuyên môn cho những ai có mong muốn cống hiến lâu dài cho sự nghiệp CTXH” - ThS Lê Chí An bày tỏ.

Còn một nguyên nhân nữa khiến ngành này chưa được xã hội mặn mà, là do nhân viên CTXH ở Việt Nam chưa có quyền hành nghề được các cấp chính quyền thừa nhận và chia sẻ, phối hợp. Chưa có tổ chức uy tín, có chức năng cấp giấy phép hành nghề cũng như tổ chức thi lấy chứng chỉ hành nghề cho nhân viên CTXH. Vì vậy, để CTXH tiến lên chuyên nghiệp hóa, đòi hỏi nhà nước ban hành quy chế, trong đó quy định phạm vi, quyền hạn, chức năng của nhân viên CTXH. . . và quy định các ngành liên quan khác có trách nhiệm phối hợp khi cần để cùng nhau giải quyết các vấn đề xã hội. 

Đối với nhiều quốc gia trên thế giới, CTXH đã phát triển trở thành một nghề chuyên nghiệp. Tuy nhiên, ở Việt Nam nghề CTXH mới chỉ ở bước đầu hình thành, chưa được phát triển theo đúng ý nghĩa của nó trên tất cả các khía cạnh. Thực tế cho thấy, đa phần nhân viên làm CTXH chưa được đào tạo cơ bản. Đội ngũ nhân viên này phát triển có tính tự phát chủ yếu là của các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, cán bộ phường, xã đôi khi là những người dân tự nguyện. Họ làm việc chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa được đào tạo kỹ năng khoa học xã hội, kỹ năng nghề cần thiết về CTXH. Do vậy, hiệu quả giải quyết các vấn đề xã hội, vấn đề của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng dân cư không cao, thiếu tính bền vững.

 

Đặt mục tiêu phát triển CTXH thành một nghề ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định dành kinh phí 2.347,4 tỉ đồng để thực hiện Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 (Quyết định 32/2010/QĐ-TTg), còn gọi là Đề án 32. Chỉ từ khi Đề án được ban hành, CTXH mới được chính thức coi như một ngành khoa học, một nghề chuyên môn với việc ban hành mã ngành đào tạo và mã số ngạch viên chức. Tính đến nay, cả nước có hơn 500 cơ sở bảo trợ xã hội. Theo Đề án, hiện số người cần trợ giúp của các dịch vụ CTXH chiếm khoảng 40% dân số. Cả nước có hơn 32.000 cán bộ, nhân viên, cộng tác viên làm việc trong lĩnh vực CTXH, tuy nhiên phần lớn (81,5%) chưa qua đào tạo.

CTXH là một nghề chuyên hỗ trợ, giúp đỡ những người gặp khó khăn hoặc những người bị đẩy ra ngoài xã hội (người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ, người già ...). Sứ mạng của ngành CTXH là nỗ lực hành động nhằm giảm thiểu: Những rào cản trong xã hội, sự bất công và sự bất bình đẳng. Tiến trình CTXH tập trung vào việc:

·      Phát hiện những mối quan tâm của con người: ví dụ như việc làm, thu nhập, tâm lý-tình cảm, ...;

·      Xác định các nhu cầu của con người: ví dụ nhu cầu về ăn, ở, mặc hoặc an toàn, vui chơi, giải trí...;

·      Xác định các nguồn lực bên trong và bên ngoài của con người (Nguồn lực bên trong: sức khoẻ, mong muốn vượt qua hoàn cảnh khó khăn, trí tuệ, kỹ năng hoặc những tiềm năng khác. Nguồn lực bên ngoài: sự hỗ trợ của chính quyền, các tổ chức, đất đai...);

·      Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch và mục tiêu để đáp ứng các nhu cầu đó.

Thực chất của nghề CTXH là cung cấp dịch vụ cho người dân, nhân viên xã hội là người phục vụ chứ không phải là người chủ. Đối tượng được chăm sóc, phục vụ đều là những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, là những người cần chăm sóc sức khỏe, được bảo vệ, che chở… Chính vì vậy, ngoài kiến thức, nhân viên CTXH cần phải được đào tạo nhiều về kỹ năng mềm. Ví dụ, trường hợp một người có tổn thương tâm lý và có ý định tự tử, nhân viên xã hội cần tìm hiểu nguyên nhân và mức độ tổn thương của người đó và giúp đỡ họ vượt qua khủng hoảng bằng cách tham vấn hoặc trị liệu tâm lý để người đó ổn định lại và không có hành vi làm tổn hại đến bản thân nữa.

Mặt khác, do đối tượng được chăm sóc, phục vụ là những đối tượng đặc biệt nên cũng rất cần các nhân viên làm CTXH có đạo đức nghề nghiệp. Ví dụ, đối tượng bị khủng hoảng tâm lý hoặc không có khả năng tự vệ, nếu như nhân viên chăm sóc không có đạo đức nghề nghiệp thì người được chăm sóc lại có thể bị xâm hại.

Một xã hội phát triển bền vững là một xã hội tạo được sự cân đối giữa phát triển kinh tế và vấn đề an sinh xã hội. Chính vì vậy, theo các chuyên gia, đã đến lúc chúng ta đẩy mạnh phát triển CTXH như một nghề chuyên nghiệp. Và việc lựa chọn nghề CTXH chính là lựa chọn nghề của lòng nhân ái.

Nghề CTXH hiện là ngành mới đào tạo ở Việt Nam. Học ngành xã hội học ra trường có nhiều cơ hội việc làm. Sinh viên tốt nghiệp ngành CTXH có thể làm việc tại các cơ quan của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội các cấp từ Trung ương đến địa phương, hoặc các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội cho các loại đối tượng xã hội khác nhau thuộc các lĩnh vực như: y tế, giáo dục, pháp luật, phúc lợi xã hội… Bạn cũng có thể làm việc độc lập với vai trò là nhân viên xã hội, kiểm huấn viên, nhà nghiên cứu, hay cán bộ hoạch định chính sách xã hội 

Từ năm 2004, Bộ GD&ĐT đã ban hành chương trình khung đào tạo ngành CTXH bậc đại học và bậc cao đẳng, nhưng phải tới năm 2010 khi Đề án 32 được ban hành, mới tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành, phát triển nghề CTXH. Nghề CTXH ở ta ngày càng được chuẩn hóa và đào tạo một cách bài bản. Bộ Nội vụ đã ban hành chức danh, mã ngạch viên chức công tác xã hội. Đây được coi là bước khởi đầu mở ra một nghề mới đầy triển vọng trên thị trường lao động.

Tuy nhiên số lượng, chất lượng đào tạo ngành CTXH đáp ứng nhu cầu xã hội đang là thách thức lớn. Cả nước hiện có chưa tới 40 trường đại học, cao đẳng đào tạo chuyên ngành này, mỗi năm tuyển sinh chỉ khoảng 2.000 sinh viên chuyên ngành CTXH. Đội ngũ giảng viên CTXH có bằng tiến sĩ và thạc sĩ rất ít, chỉ khoảng 30- 40 người. Thậm chí có trường chưa có giảng viên nào. Bên cạnh đó, công tác đào tạo nghề CTXH còn một số bất cập như: chương trình nặng về lý thuyết, thiếu đội ngũ giảng viên thực hành chuyên nghiệp, thiếu cơ sở thực hành chuyên nghiệp… Nếu so sánh tính chuyên nghiệp của CTXH ở nước ta với các nước phát triển và ngay cả những nước trong khu vực, chúng ta còn một khoảng cách khá lớn./.

Nguyễn Văn Hồi – Cục trưởng Cục BTXH

 

 

Xem