Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

QUẢNG NINH VỚI VẤN ĐỀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI

28/08/2013

Cùng với việc chú trọng huấn huyện và tuyên truyền, giáo dục về an toàn vệ sinh lao động, công ty đang phấn đấu xây dựng văn hóa tự chủ, tự giác trong việc chấp hành quy trình làm việc cũng như ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường bằng cách xiết chặt kỷ luật đối với các trường hợp vi phạm. Mỗi tháng, công ty bố trí cho toàn thể cán bộ công nhân viên nghỉ một ngày hưởng lương để xây dựng chương trình an toàn tự chủ cho bản thân, cho đơn vị và tiến hành sát hạch ngay tại công trường. Bên cạnh đó, tập thể lãnh đạo Công ty còn luôn quan tâm đến đời sống của cán bộ công nhân viên và không ngừng cải thiện điều kiện làm việc, từ ăn ở, tắm giặt, có xe đưa đón đến tận cửa lò, giảm thời gian đi lại tăng thời gian hữu ích để công nhân có đủ sức khỏe làm hết ca với cường độ lao động cao. Công ty cũng xây dựng quy chế thưởng xứng đáng cho cán bộ công nhân viên có sáng kiến cải tiến, hợp lý hóa quy trình sản xuất và áp dụng hệ số khuyến khích tiền lương để thúc đẩy tinh thần hăng hái lao động.....

1. Than Mông Dương: Nhiều giải pháp để tăng cường ATVSLĐ tại nơi sản xuất

Công ty cổ phần than Mông Dương (thuộc Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam – Vinacomin) là đơn vị chuyên khai thác than bằng phương pháp khai thác hầm lò. 

Hiện tại, mỏ đang tiến hành khai thác than từ mức -250 so với mực nước biển lên đến lộ vỉa, mặc dù gặp nhiều khó khăn do diện sản xuất ngày càng xuống sâu, đi xa, khí mê tan nồng độ cao thường thoát ra ở các vỉa than, nguy cơ bục nước xuống đường lò lớn, hệ số xén lò nhất là dọc vỉa than tương đối cao... nhưng với nhiều giải pháp đồng bộ như: phát triển hệ thống quản lý, cảnh báo rủi ro, nguy cơ TNLĐ; xây dựng văn hóa tự chủ, tự giác trong việc chấp hành quy trình làm việc;…Công ty đã giảm bớt tai nạn lao động xuống mức thấp nhất, tạo tâm lý an toàn cho tập thể cán bộ công nhân xuống lò.

Từ nhiều năm qua, Công ty đã xây dựng và phát triển hệ thống quản lý, cảnh báo rủi ro, nguy cơ tai nạn lao động bằng cách áp dụng các phương pháp xác định rủi ro (Phân tích cây sai lỗi; nghiên cứu rủi ro trong vận hành; xác định rủi ro thiết bị và các lỗi tiềm ẩn do con người;…) vào tất cả các khâu của quá trình sản xuất để tìm nguyên nhân gốc rễ gây ra các sự cố, sai hỏng từ đó phân tích, đánh giá rủi ro một cách chi tiết đồng thời tìm kiếm các biện pháp ngăn chặn, loại trừ phù hợp để đảm bảo cho sản xuất được an toàn, hiệu quả và thông suốt.
 

Hệ thống lò chợ tại công ty than Mông Dương


Đầu tiên là khâu thiết kế mở vỉa và khai thác, đơn vị tiến hành khảo sát toàn bộ địa hình, đánh giá điều kiện địa chất thủy văn, địa chất công trình, những khu vực có ảnh hưởng từ các nguy cơ bục nước, bục khí thông qua hệ thống các lỗ khoan thăm dò để xác định các mối hiểm họa một cách chi tiết, chính xác, từ đó đưa ra phương án hợp lý nhất đảm bảo an toàn, hiệu quả cho quá trình sản xuất sau này.

Tiếp theo là lập phương án, giải pháp kỹ thuật để đưa vào sản xuất, đơn vị cũng tiến hành nghiên cứu kỹ các điều kiện địa chất, kỹ thuật vật tư thiết bị từ đó chọn lựa những phương án tiết kiệm nhất và có thể sử dụng tối đa các vật tư sẵn có. Trên cơ sở đó, đưa ra định mức và chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để giao khoán cho phù hợp với từng đơn vị, từng công nghệ cụ thể. Trong quá trình sản xuất, việc sử dụng vật tư, thiết bị theo các phương án thi công được giám sát chặt chẽ. Cuối kỳ, tổ chức nghiệm thu sản phẩm cho các đơn vị và kết hợp kiểm đếm vật tư tồn, sau đó mới tiến hành quyết toán. Đối với thiết bị, máy móc, công ty có quy định về công tác duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa đầu ca, hàng ngày, hàng tuần. Ngoài ra, mỗi tuần, vào chủ nhật, các công trường phân xưởng tự tổ chức sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị của đơn vị mình để đảm bảo hoạt động thông suốt, giảm ách tắc do phát sinh không lường trước.

 

bếp ăn tự chọn cho CBCNV

Ngoài chế độ kiểm tra, tự kiểm tra theo quy định của Tập đoàn, hàng tháng công ty thành lập các đoàn kiểm tra với các chuyên đề chuyên sâu như: Quản lý, sử dụng các thiết bị cơ điện – vận tải; phòng chống mưa bão; quản lý sử dụng và bảo quản vật liệu nổ công nghiệp; quản lý thông gió, thoát nước; vệ sinh công nghiệp… để kịp thời phát hiện những yếu tố nguy hiểm, sai phạm để có biện pháp xử lý kịp thời.

Công tác điều hành của công ty cũng được xác lập theo một trình tự hợp lý, chính xác trên cơ sở phát huy tối đa năng lực thiết bị trong dây chuyền sản xuất. Trong đó, kế hoạch tác nghiệp được lập một cách chặt chẽ từ cung ứng nguyên vật liệu đến nhân lực. Riêng với vận tải, Công ty sử dụng tối đa hình thức vận tải hai chiều, xe đủ trọng tải mới được chạy... Mỗi quý một lần, tiến hành tập hợp chi tiết các chi phí và phân tích những việc đã làm được, so sánh với các chỉ tiêu mà Tập đoàn đã giao trong kế hoạch khoán chi phí. Từ đó, có thể chủ động hơn trong việc tìm nguyên nhân tăng giảm, lập các biện pháp điều chỉnh sản xuất hợp lý sao cho tiết kiệm, hiệu quả, an toàn trong chi phí sản xuất tốt nhất. Không chỉ trong sản xuất, công tác khoán quản còn được triển khai ở tất cả các khâu, kể cả phục vụ, phụ trợ với cơ chế thưởng phạt rõ ràng, nghiêm khắc. Đơn vị nào sử dụng vật tư, phụ tùng, nhiên liệu thấp hơn định mức dương (+) thì được thưởng 30% giá trị tiết kiệm bổ sung vào thu nhập ngay trong tháng, đơn vị nào vượt quá định mức âm (-) sẽ bị phạt giảm trừ 100% giá trị vượt vào lương của tháng đó.

Bên cạnh đó, còn quan tâm đầu mua sắm các thiết bị cơ giới hóa, hiện đại trong đào chống lò và khai thác than như: Máy khoan CMJ, máy xúc lật hông; barie mềm, hệ thống tời hỗ trợ cho người đi bộ từ mức -97,5 xuống mức -250; củng cố hệ thống tàu điện đưa công nhân tới các khu vực tại mức -97,5 và mức -250; hệ thống phun sương dập bụi, máy khấu combai, hệ thống loa phóng thanh, hệ thống quan trắc khí, gió mỏ tập trung tự động…với giá trị hàng trăm tỷ đồng. Nhờ đó, đã giảm thiểu sức lao động cho công nhân, nâng cao hệ số an toàn lao động và nâng cao hiệu quả trong sản xuất.

Cùng với việc chú trọng huấn huyện và tuyên truyền, giáo dục về an toàn vệ sinh lao động, công ty đang phấn đấu xây dựng văn hóa tự chủ, tự giác trong việc chấp hành quy trình làm việc cũng như ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường bằng cách xiết chặt kỷ luật đối với các trường hợp vi phạm. Mỗi tháng, công ty bố trí cho toàn thể cán bộ công nhân viên nghỉ một ngày hưởng lương để xây dựng chương trình an toàn tự chủ cho bản thân, cho đơn vị và tiến hành sát hạch ngay tại công trường. Bên cạnh đó, tập thể lãnh đạo Công ty còn luôn quan tâm đến đời sống của cán bộ công nhân viên và không ngừng cải thiện điều kiện làm việc, từ ăn ở, tắm giặt, có xe đưa đón đến tận cửa lò, giảm thời gian đi lại tăng thời gian hữu ích để công nhân có đủ sức khỏe làm hết ca với cường độ lao động cao. Công ty cũng xây dựng quy chế thưởng xứng đáng cho cán bộ công nhân viên có sáng kiến cải tiến, hợp lý hóa quy trình sản xuất và áp dụng hệ số khuyến khích tiền lương để thúc đẩy tinh thần hăng hái lao động.

Nhờ xác định đúng vai trò của công tác ATVSLĐ-PCCN cùng với việc mạnh dạn đầu tư áp dụng công nghệ mới, Công ty cổ phần than Mông Dương đã hạn chế được thấp nhất tai nạn lao động xảy ra, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ sản xuất. Với đà tăng trưởng ổn định, sáu tháng đầu năm 2012, mỏ đã hoàn thành được 64% kế hoạch doanh thu cả năm, đưa mức lương bình quân của thợ lò lên trên 10 triệu đồng/người/tháng và trở thành một trong những đơn vị có mức thu nhập bình quân cao của Tập đoàn.
 


2. Các mô hình dự án phát triển sản xuất nông nghiệp đã góp phần công cuộc giảm nghèo của địa phương

Sáng 5-10, đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp kiểm điểm việc triển khai các mô hình, dự án phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2012.

 

Đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh kết luận chỉ đạo cuộc họp

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong các năm 2011, 2012, cùng với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, ngành, địa phương trong tỉnh, sự quan tâm đầu tư phát triển của các doanh nghiệp và bà con nông, ngư dân, sản xuất nông nghiệp trong tỉnh đã có bước phát triển ổn định, nhiều lĩnh vực đạt tốc độ tăng trưởng khá; nhiều mô hình, điển hình, dự án phát triển sản xuất được xây dựng, triển khai, nhân rộng đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao góp phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung toàn tỉnh.

Các mô hình khuyến nông đã bám sát chủ trương, định hướng của ngành, cơ bản đáp ứng đòi hỏi sản xuất của địa phương. Nhiều mô hình hay, cách làm hiệu quả được nghiên cứu ứng dụng và nhân rộng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Cụ thể, đã triển khai thực hiện 138 mô hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và khuyến công tại hầu hết các huyện, thị xã thành phố trong tỉnh.

Đối với mô hình chăn nuôi, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai thực hiện 36 mô hình, dự án chăn nuôi gia súc, gia cầm và chăn nuôi động vật hoang dã, điển hình như: mô hình chăn nuôi gà an toàn sinh học được triển khai thực hiện ở nhiều địa phương trong tỉnh, cho thu nhập từ 80 – 100 triệu đồng (quy mô 1.000 con), lãi suất 30 – 40 %/vụ nuôi/3 tháng nuôi; nuôi động vật hoang dã (lợn rừng sinh sản, nuôi chồn nhung đen) giúp người dân nâng cao thu nhập gấp 5-6 lần so với phương pháp chăn nuôi truyền thống. Mô hình này đặc biệt phù hợp và hiệu quả đối với nông dân vùng đồng bào dân tộc, miền núi nhờ tận dụng được nhiều nguồn cung thức ăn sẵn có… Hầu hết các mô hình chăn nuôi đều cho kết quả bằng hoặc vượt chỉ tiêu về năng suất, hiệu quả kinh tế đề ra, được nhân dân và chính quyền địa phương đánh giá cao.

Mô hình trồng trọt được Sở triển khai thực hiện 56 mô hình. Chỉ tính riêng năm 2012, có 8/14 địa phương tham gia thực hiện mô hình lúa gieo thẳng với một số giống mới chất lượng cao như: QR1, QR2, RVT, TBR45, BC15, nếp cái hoa vàng… với  quy mô  trên 259,6 ha và 400 hộ tham gia. Mô hình lúa gieo thẳng được triển khai bắt đầu từ năm 2010 đến nay đã nhân rộng được khoảng 13.960 ha, tăng 1.275 ha so với năm 2011, chiếm khoảng 32,2% tổng diện tích lúa, việc ứng dụng công cụ gieo thẳng giúp giảm chi phí nhân công từ 10 – 12 %, tăng năng suất 8 – 10 % và tăng hiệu quả kinh tế 1,2 đến 1,5 lần. Một số mô hình cây ăn quả chuyên canh, tập trung, hiệu quả kinh tế cao được triển khai nhân rộng hình thành nên những vùng sản xuất tập trung như: vải chín sớm, trồng thanh Long ruột đỏ, na dai, khoai rây Hà Lan, ngô lai, trồng rau an toàn, trồng hoa công nghệ cao...

Ngoài ra, Sở đã và đang triển khai thực hiện 13 mô hình khuyến lâm về phát triển cây lâm sản ngoài gỗ (Nấm  Linh chi, Ba kích, cây mây nếp), trồng thâm canh cây lấy gỗ (sa mộc, keo tai tượng)… Bên cạnh đó còn thực hiện 26 mô hình nuôi, khai thác thủy sản triển khai đồng bộ trên 03 loại hình mặt nước, nuôi ngọt, nuôi lợ và nuôi biển với những đối tượng có giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ ổn định phù hợp với điều kiện sinh thái, năng lực của người dân từng vùng, miền địa phương trong tỉnh. Ngoài ra, các Dự án ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất giống và nuôi thương phẩm, xây dựng thương hiệu Cua biển Quảng Yên, Ghẹ Trà Cổ, Cá Song, Cá Đối mục, tôm chân trắng Móng Cái… bằng nguồn vốn sự nghiệp khoa học của tỉnh, chương trình nông thôn miền núi đang được các doanh nghiệp tiếp tục triển khai thực hiện.

Đối với mô hình khuyến công, thực hiện 07 mô hình, trong đó 03 mô hình cơ giới hóa khấu làm đất, 01 mô hình máy gặt đập liên hợp và 01 mô hình máy tuốt đập liên hoàn, 02 mô hìn máy cắt cỏ, mô hình cơ giới hóa trong khâu làm đất. Các mô hình khuyến công giúp tăng năng suất lao động từ 15 đến 30%, tăng giá trị hàng hóa từ 8 đến 10%, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp. Các mô hình khuyến công giúp tăng năng suất lao động từ 15 đến 30%, tăng giá trị hàng hóa từ 8 đến 10%, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp.

Phát biểu tham gia ý kiến tại cuộc họp, đại diện các sở, ban, ngành, địa phương đã nêu lên những khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai các dự án, mô hình sản xuất như: Nguồn kinh phí cho việc thực hiện các mô hình, dự án phát triển sản xuất nông nghiệp có hạn, trong khi nhu cầu đòi hỏi của sản suất không ngừng gia tăng; thị trường giá cả vật tư, con giống, nhiên liệu chưa ổn định; tình hình bệnh dịch ngày một khó kiểm soát; người dân ở một số nơi còn trông chờ, ỷ lại…

Kết luận cuộc họp, đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định: Các mô hình, dự án phát triển sản xuất nông nghiệp bước đầu phát huy được hiệu quả, đi vào đời sống của người dân, có sức lan tỏa, tạo sự chuyển biến cho nông nghiệp, nông thôn và góp phần vào công cuộc giảm nghèo tại địa phương đồng thời tạo điều kiện cho các hộ gia đình làm giàu.

Tuy nhiên, việc thực hiện các mô hình còn bộc lộ nhiều hạn chế như: nhiều cơ chế, chính sách của tỉnh chưa kịp thời, công tác tuyên truyền chưa liên tục, việc thay đổi tập quán của người dân còn chậm… Chính vì vậy, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các huyện, thị xã, thành phố đánh giá lại hoạt động triển khai mô hình trong thời gian qua để chuẩn bị cho kế hoạch tiếp theo trong việc phát triển phát triển kinh tế gắn với từng địa phương.

Bên cạnh đó, cần quan tâm kêu gọi, khuyến khích, vận động các doanh nghiệp tham gia vào công cuộc sản xuất, phát triển nông nghiệp của tỉnh. Các địa phương cần quan tâm đến việc tập huấn khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp và quyết liệt hơn trong công tác chỉ đạo thực hiện các mô hình sản xuất.

Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng đề nghị các sở, ngành, địa phương phối hợp để tiếp tục tham mưu cho tỉnh xây dựng cơ chế, chính sách cho phát triển nông nghiệp như: đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, quan tâm tìm đầu ra cho sản phẩm.../.

Theo quangninh.gov.vn

3. Quảng Ninh: Triển khai thí điểm hệ thống thống kê báo cáo tai nạn lao động

Vừa qua, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ninh đã phối hợp với Cục An toàn Lao động (Bộ LĐTBXH) tổ chức triển khai thí điểm hệ thống thống kê, báo cáo tai nạn lao động nhằm mục đích tăng cường công tác thống kê, báo cáo tai nạn lao động; xây dựng cơ sở dữ liệu về công tác quản lý tai nạn lao động. Từ đó đề xuất việc hoàn thiện hệ thống thống kê, báo cáo tai nạn lao động trên cả nước và đề ra các giải pháp phòng ngừa tai nạn lao động.

 

Theo đó, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn cần phải báo cáo tình hình tai nạn lao động tại đơn vị mình cho Thanh tra Sở Lao động – Thương binh theo hướng dẫn cụ thể như sau: Đối với tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động nghiêm trọng có từ 2 người bị thương nặng trở lên thì cơ sở phải khai báo bằng cách nhanh nhất (điện thoại, fax) về Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; Khi xảy ra tai nạn lao động (chết người, nặng, nhẹ) thì cơ sở đều phải thống kê vào Sổ thống kê TNLĐ tại đơn vị theo biểu mẫu số 1 (kèm theo); Hằng tháng tổng hợp các vụ tai nạn lao động theo biểu số 2 (kèm theo) và gửi về Thanh tra Sở Lao động - TB&XH  trước ngày 05 của tháng tiếp theo; gửi bằng văn bản và gửi theo địa chỉ hòm thư điện tử; Trong tháng nếu đơn vị không để xảy ra tai nạn lao động thì vẫn phải gửi báo cáo theo quy định và ghi là: “trong tháng không xảy ra tai nạn lao động”.

 

Thời gian thực hiện thí điểm việc thống kê, báo cáo bắt đầu từ tháng 8/2012. Đây là hoạt động triển khai thí điểm hệ thống thống kê tai nạn lao động, do đó ngoài việc thực hiện nội dung trên thì các đơn vị vẫn phải tuân thủ thực hiện theo quy định tại Thông tư Liên tịch số 12/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 21/5/2012 về khai báo, điều tra, thống kê và báo cáo tai nạn lao động.

 

 

 


Xem