Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Để an toàn luôn là bạn đồng hành của người lao động

01/03/2005

Tới bất cứ công trường, nhà máy hay cơ sở sản xuất nào ta cũng gặp những khẩu hiệu quen thuộc: “An toàn là bạn, tai nạn là thù”, “An toàn để sản xuất, sản xuất phải an toàn”… An toàn đã là điều mong ước không chỉ của người lao động, người sử dụng lao động mà còn của cả xã hội. Tuy nhiên, tình hình tai nạn trong lao động sản xuất ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều điều đáng quan tâm.

Theo thông báo mới nhất của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội: tai nạn lao động trong năm 2004 tăng cả số vụ, số người bị nạn và số người chết. Thống kê của 64 tỉnh, thành phố cho biết, cả nước đã xảy ra 6026 vụ tai nạn lao động, làm gần 6200 người bị nạn, trong đó, 85 vụ có 2 người bị nạn trở lên. Các địa phương xảy ra nhiều tai nạn lao động, đặc biệt là tai nạn lao động gây chết người tại nơi làm việc là thành phố Hồ Chí Minh (791 vụ), Hà Nội (357 vụ), Đồng Nai (1480 vụ), Bình Dương (601 vụ), Quảng Ninh (246 vụ), Quảng Nam, Hải Dương, Bến Tre… Qua điều tra, những lĩnh vực thuộc loại lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như: xây dựng, lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện, khai thác khoáng sản… thường xảy ra nhiều tai nạn lao động (TNLĐ). Ngoài thiệt hại về người, trong các vụ TNLĐ, thiệt hại về vật chất trong năm qua cũng không nhỏ, gần 20 tỷ đồng, trong đó có cả tiền thuốc men, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người chết và những người bị thương. Đó là chưa kể đến thiệt hại về số ngày nghỉ do TNLĐ (gần 70.000 ngày). Nguyên nhân chủ quan Kết quả điều tra và phân tích cho thấy, nguyên nhân chủ yếu của các vụ TNLĐ là do người sử dụng lao động và người lao dộng vi phạm các tiêu chuẩn, quy phạm về kỹ thuật an toàn, cơ sở sản xuất không có quy trình, biện pháp làm việc an toàn (chiếm khoảng 50% số vụ TNLĐ). Nhiều đơn vị sử dụng lao động đã không tổ chức huấn luyện hoặc huấn luyện chưa đầy đủ, đảm bảo chất lượng về vấn đề an toàn lao động cho người lao động. Nguyên nhân này chiếm 3,4% số vụ. Mặt khác, đơn vị sử dụng lao động không có quy trình biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (chiếm 3,65 số vụ). Về phía người lao động, do nhiều người vốn sinh sống ở các vùng nông thôn, không được đào tạo cơ bản, khi làm việc chỉ hướng dẫn về thao tác nên không hiểu biết luật pháp an toàn lao động, không nắm được các mối nguy hiểm cần phải đề phòng trong môi trường lao động. Vì vậy, tình trạng người lao động vi phạm các quy định về an toàn lao động khá phổ biến. Tuy nhiên, một số người mặc dù đã được đào tạo cơ bản, được huấn luyện về an toàn lao động nhưng do chạy theo năng suất, ý thức chấp hành kỷ luật kém, lại chủ quan, không sử dụng các trang bị, phương tiện bảo hộ lao động mặc dù đã được cấp phát đầy đủ và hướng dẫn sử dụng…, nên đã gây ra những TNLĐ đáng tiếc cho bản thân và những người cùng làm việc. Về phía các cơ quan quản lý nhà nước, công tác chỉ đạo đảm bảo an toàn lao động cũng được đánh giá là chưa thường xuyên và thiếu nhạy bén. Số cuộc thanh tra, kiểm tra về thực hiện pháp luật lao động đối với doanh nghiệp còn ít và hiệu quả chưa cao. Số lượng, chất lượng thanh tra viên chưa tương xứng với yêu cầu. Nhiều địa phương do thiếu thanh tra viên lao động nên chỉ tổ chức các cuộc kiểm tra liên ngành mà không có các cuộc thanh tra liên ngành về lao động. Do đó, những vi phạm pháp luật lao động không được phát hiện kịp thời, dẫn đến nhiều vụ TNLĐ đáng tiếc. Công tác đảm bảo an toàn lao động trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, lao động nông, lâm, ngư nghiệp, các hộ kinh doanh cá thể, các làng nghề…còn bị buông lỏng. Khắc phục hậu quả chưa kịp thời Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết, đến 17/2/2005, Bộ mới nhận được biên bản điều tra và xử lý 270 vụ trong tổng số 561 vụ TNLĐ đáng tiếc xảy ra trong năm 2004 (chưa tới 50% số vụ). Tuy nhiên, chỉ có một vụ tai nạn nghiêm trọng đề nghị các cơ quan có thẩm quyền đưa ra truy tố trước pháp luật. Trên thực tế, số vụ nghiêm trọng cần được đưa ra truy tố không phải là ít. Công tác điều tra TNLĐ còn chậm và thời gian điều tra nhiều vụ việc còn kéo dài. Một số vụ xác định nguyên nhân chưa chính xác, không quy kết trách nhiệm rõ ràng nên chưa nêu được các biện pháp phòng ngừa trong trường hợp cụ thể. Không ít vụ đã xác định nguyên nhân trực tiếp do chính người bị nạn vi phạm quy tắc về an toàn lao động nhưng không quy trách nhiệm (do nể nang hoặc do người bị nạn đã
Xem