Chung tay hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về

Ngày cập nhật: 07-07-2018

Quang cảnh hội thảo
Ngày 6⁄7⁄2018, tại Hà Nội, Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) tổ chức Hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện Đề án tiếp nhận, xác minh, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán và nhân rộng mô hình hoạt động Đội công tác xã hội tình nguyện. Cục trưởng Nguyễn Xuân Lập và Phó Cục trưởng Lê Đức Hiền, chủ trì hội nghị.

Gần 1.000 nạn nhân bị mua bán trở về được tiếp nhận, hỗ trợ
Báo cáo tình hình hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về giai đoạn 2016-2018, ông Lê Đức Hiền, Phó Cục trưởng, Cục PCTNXH cho biết, thời gian qua, tình hình mua bán người tại Việt Nam diễn biến hết sức phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi. Từ ngày 16/11/2015 đến ngày 15/5/2018, toàn quốc đã phát hiện 885 vụ mua bán người với 1.158 đối tượng, 2.319 nạn nhân. Các đơn vị, cơ quan chức năng đã xác minh 1.117 trường hợp bị mua bán và đã tiếp nhận gần 1.000 nạn nhân.
Điển hình như tỉnh Quảng Ninh, đã tiếp nhận 228 nạn nhân (203 phụ nữ, 25 trẻ em), trong đó, có 07 nạn nhân là người Quảng Ninh, 221 nạn nhân là người ngoài tỉnh. Tỉnh Điện Biên tiếp nhận 131 nạn nhân, trong đó, năm 2016 có 68 nạn nhân, năm 2017 có 45 nạn nhân và 5 tháng đầu năm 2018 là 18 nạn nhân. Tỉnh Lai Châu là 54 nạn nhân, trong đó năm 2016 là 18 nạn nhân; năm 2017 là 12 nạn nhân và năm 2018, phòng LĐ-TBXH các huyện, thành phố phối hợp với các cơ quan chức năng tiếp nhận 12 nạn nhân trở về...

Ông Lê Đức Hiền - Phó Cục trưởng Cục PCTNXH trình bày báo cáo tại Hội nghị

Đối tượng phạm tội mua bán người gồm cả nam và nữ, thường không có nghề nghiệp ổn định hoặc buôn bán tự do qua lại biên giới như chủ chứa mại dâm, môi giới mại dâm hoặc những người đã từng bị mua bán ra nước ngoài làm gái bán dâm. Các đối tượng này đã lợi dụng các đường mòn biên giới, sự kém hiểu biết, thiếu thông tin của nạn nhân hoặc tục lệ cưới hỏi của đồng bào dân tộc ít người, sự quản lý lỏng lẻo của gia đình, nhà trường, hoàn cảnh gia đình, kinh tế khó khăn và thông qua các trang mạng xã hội (Zalo, Facebook, Webchat...) hoặc những mối quan hệ sẵn có để tiếp cận, rủ rê, dụ dỗ, lôi kéo nạn nhân với lời hứa hẹn mua bán hàng hóa, thăm thân nhân, tham quan du lịch, chữa bệnh, và tìm giúp việc nhẹ nhàng, thu nhập cao để đưa người ra nước ngoài.
Nạn nhân bị bán thường là những phụ nữ, trẻ em vùng nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng giáp biên giới và đang trong độ tuổi kết hôn, không có việc làm ổn định. Nạn nhân bị bán với nhiều mục đích khác nhau như làm vợ hoặc làm con nuôi; bị bán vào các quán cà phê trá hình, các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ phát sinh tệ nạn xã hội; bị ép hoạt động mại dâm; cưỡng bức lao động; cho vay nặng lãi; đẻ thuê; bán nội tạng...
Tại thành phố Hồ Chí Minh, đối tượng mua bán người tìm đến những nơi chăm sóc, nuôi dạy trẻ mồ côi, bệnh viện phụ sản, móc nối với nhân viên các cơ sở này để tìm cách tiếp cận, gạ gẫm những phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, mang thai ngoài ý muốn nhằm mục đích mua bán trẻ sơ sinh hoặc mua bán các trẻ có nguy cơ bị bỏ rơi sau sinh. Hay như tỉnh Thanh Hóa, bọn tội phạm thường sử dụng mạng Internet, Facebook, tìm các số điện thoại và chủ thuê bao có tuổi đời từ 13 đến 25 là học sinh các trường phổ thông trung học, trường Trung cấp, Cao đẳng, Đại học để nhắn tin làm quen, sau một thời gian, chúng lừa đưa lên vùng biên giới mua hàng, đi du lịch rồi bán qua biên giới.
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã xuất hiện đối tượng đưa các nạn nhân là người nước ngoài (quốc tịch Campuchia) xuất phát từ các tỉnh phía Nam ra Quảng Ninh rồi bán sang Trung Quốc kiếm lời. Còn tại tỉnh Hậu Giang, nguy cơ xảy ra tội phạm mua bán người chủ yếu tình trạng lợi dụng kết hôn trá hình với người nước ngoài (Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc...). Ở tỉnh Nghệ An, các đối tượng phạm tội thường có mối quan hệ trong các ngành nghề kinh doanh có điều kiện ở các thành phố, thị xã, khu du lịch trong nước hoặc vùng giáp ranh, biên giới. Hoặc một số đối tượng trước đây bị lừa bán, sau đó đã trở lại địa phương để lừa phụ nữ, trẻ em đem bán.
Kết quả, hầu hết các nạn nhân bị mua bán trở về đều bị tổn thương nặng nề cả thể chất lẫn tinh thần. Sức khỏe giảm sút do bị ép buộc lao động quá sức, bị đánh đập, tra tấn, bị giam giữ, bị bóc lột tình dục, bị mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và các bệnh xã hội khác. Tinh thần hoảng loạn, không ổn định do sợ hãi, bị đe dọa, bị đưa đi bán lại nhiều lần, thậm chí có một vài trường hợp bị xâm hại cả tính mạng. Không chỉ nạn nhân mà ngay cả gia đình, người thân cũng chịu nhiều hậu quả của tội phạm mua bán người.
Theo thống kê, tại các địa phương có đường biên giới, các đối tượng đã hình thành nhiều đường dây, băng nhóm liên tỉnh, xuyên quốc gia với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt có tính chất nghiêm trọng để lừa bán nạn nhân sang các quốc gia, trong đó nạn nhân bị lừa bán sang Trung Quốc (chiếm trên 75%), sang Lào và Campuchia (11%), còn lại đưa sang các nước khác thông qua đường hàng không và đường biển.
Tiếp tục xây dựng, thí điểm mô hình hỗ trợ nạn nhân tại cộng đồng
Sau khi tiếp nhận, 100% nạn nhân đều được lực lượng chức năng như Công an, Bộ đội biên phòng, chính quyền địa phương cấp huyện, xã tổ chức gặp gỡ, tư vấn và thực hiện chế độ hỗ trợ để các nạn nhân ổn định tâm lý, sức khỏe và chuyển tuyến, tái hòa nhập cộng đồng theo quy định. Riêng nạn nhân là trẻ em, chính quyền địa phương hướng dẫn thủ tục làm giấy khai sinh cho các em.
Trong những năm qua, một số tỉnh, thành phố đã thành lập được các mô hình hỗ trợ nạn nhân với mục đích trợ giúp cho các đối tượng có nguy cơ bị mua bán và bị mua bán trở về, tiếp cận các dịch vụ nhu cầu thiết yếu như giáo dục kỹ năng sống, trợ giúp tâm lý, học văn hóa, học nghề, khám sức khỏe. Điển hình như  tỉnh Lào Cai với mô hình “Nhà nhân ái”; tỉnh An Giang với mô hình “Ngôi nhà tình thương”. Các tỉnh Thanh Hóa, Bắc Giang, Tây Ninh, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình với mô hình “Nhóm Tự lực”; tỉnh Nghệ An với chương trình “Phòng, chống mua bán người qua biên giới” tại một số huyện giáp ranh với đường biên giới...
Các mô hình hỗ trợ nạn nhân tại cộng đồng đã được các địa phương đánh giá cao về tính hiệu quả và thực tiễn. Sự thành công của các mô hình bước đầu đã giúp đỡ được những nạn nhân có hoàn cảnh khó khăn, được tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng bền vững, tạo nguồn vốn sinh kế hiệu quả đem lại thu nhập, ổn định cuộc sống.

Ông Nguyễn Xuân Lập - Cục trưởng Cục PCTNXH phát biểu tại Hội nghị

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Xuân Lập, Cục trưởng Cục PCTNXH, hiện nay tình hình tội phạm mua bán người tiếp tục có diễn biến phức tạp, với thủ đoạn hoạt động của tội phạm mua bán người ngày càng tinh vi, xảo quyệt, mang tính xuyên quốc gia với nhiều đường dây, băng nhóm có sự câu kết giữa các đối tượng cả trong và ngoài nước .
Vì vậy, nhiệm vụ phòng, chống mua bán người và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về trong thời gian tới là rất nặng nề. Các Bộ, ngành Trung ương cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát, đánh giá thực trạng chính sách pháp luật về công tác hỗ trợ nạn nhân, từ đó đề xuất, sửa đổi, bổ sung chính sách cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới; Nghiên cứu, khảo sát, xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật cho dịch vụ hỗ trợ phục hồi cho nạn nhân bị mua bán trở về; Tổ chức các khóa tập huấn, hội thảo chia sẻ kinh nghiệm trong công tác hỗ trợ nạn nhân nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ ngành Lao động- Thương binh và Xã hội và các cơ quan ban ngành liên quan để thực hiện tốt quy trình hỗ trợ nạn nhân và giúp họ hòa nhập cộng đồng; Triển khai xây dựng thí điểm các mô hình hỗ trơ nạn nhân tại cộng đồng; đánh giá, rút kinh nghiệm và nhân rộng các mô hình thành công trong phạm vi toàn quốc; Tổ chức khảo sát, đánh giá, rút kinh nghiệm và nhân rộng các mô hình hỗ trợ nạn nhân thành công tại cộng đồng; khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia vào công tác hỗ trợ nạn nhân; Tổ chức kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công tác hỗ trợ nạn nhân tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm về mua bán người; Nâng cấp trang thiết bị đảm bảo phục vụ công tác hỗ trợ nạn nhân tại các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân; Xây dựng các phóng sự tuyên truyền về công tác hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về.
Đối với các tỉnh, thành phố, hàng năm cần quan tâm, bố trí kinh phí trong ngân sách nhà nước cho công tác hỗ trợ nạn nhân bị mua bán; chỉ đạo các ban, ngành liên quan thực hiện lồng ghép công tác hỗ trợ nạn nhân với các chương trình kinh tế - xã hội khác của địa phương như xóa đói giảm nghèo, dạy nghề, tạo việc làm...; huy động mọi nguồn lực trong công tác hỗ trợ, từng bước xã hội hóa, khuyến khích người dân và các tổ chức doanh nghiệp trên địa bàn cùng tham gia đóng góp trong việc hỗ trợ các nạn nhân trở về hòa nhập cộng đồng. Đồng thời, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trọng điểm về nạn mua bán người cần chủ động nghiên cứu, xây dựng mô hình hỗ trợ nạn nhân tại cộng đồng có hiệu quả, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm, tình hình địa phương.
 

Tìm theo ngày

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   refresh capcha

Văn bản Chỉ đạo điều hành

Công văn số 1092/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo tình hình triển khai ứng dụng công nghệ...Công văn số 1064/LĐTBXH-BHXH v/v giải đáp vướng mắc trong thực hiện Nghị định số...Thông báo về việc giới thiệu chức danh và chữ ký bà Lê Minh GiangCông văn số 1049/LĐTBXH-TCCB v/v đăng ký tham gia khóa Bồi dưỡng về hội nhập quốc tếCông văn số 1045/LĐTBXH-KHTC v/v tham dự Hội nghị tập huấn hướng dẫn quản lý, sử...Báo cáo công tác cải cách hành chính quý I năm 2019Quyết định số 261/QĐ-LĐTBXH về việc đổi tên Trường Cao đẳng nghề Đại An thành Trường...Công văn số 870/LĐTBXH-VP v/v báo cáo tổng kết thi hành Nghị định về công tác văn...Quyết định số 272/QĐ-LĐTBXH về việc thu hồi Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao...Quyết định số 260/QĐ-LĐTBXH v/v ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án "Tuyên...Quyết định số 259/QĐ-HĐPHPBGDPL về ban hành Kế hoạch hoạt động của Hội đồng phối hợp...Giấy mời số 780/GM-LĐTBXH tọa đàm về thực trạng và định hướng phát triển quan hệ lao...Công văn số 717/LĐTBXH-KHTC v/v thông báo thực hiện văn bản mới ban hànhCông văn số 697/LĐTBXH-TCCB v/v thống kê thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng...Công văn số 672/LĐTBXH-TE v/v hướng dẫn công tác trẻ em năm 2019Công văn số 665/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo tình hình giải ngân vốn đầu tư công năm 2018Công văn số 661/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2018Công văn số 661/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2018Công văn số 655/LĐTBXH-BĐG v/v mời tham dự Hội thảo tham vấn xây dựng kế hoạch thực...Công văn số 654/LĐTBXH-BĐG v/v cung cấp thông tin về các sản phẩm truyền thông về...Công văn số 616/LĐTBXH-TCGDNN v/v xin ý kiến về dự thảo Thông tư sửa đổi điểm m...Công văn số 51/KHLĐ-QLKH v/v báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ KH&CN năm 2019 và...Công văn số 596/LĐTBXH-TCGDNN v/v bổ sung lịch trình tổ chức các kỳ đánh giá kỹ năng...Công văn số 595/LĐTBXH-BĐG v/v báo cáo tình hình triển khai Mô hình Cơ sở trợ giúp...Công văn số 591/LĐTBXH-BTXH v/v tăng cường triển khai thưc hiện trợ giúp xã hội đối...Công văn số 566/LĐTBXH-KHTC v/v triển khai thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày...Công văn số 471/LĐTBXH-KHTC v/v thông báo thực hiện văn bản mới ban hànhV/v báo cáo công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL năm 2018Quyết định số 13/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao...Quyết định số 98/QĐ-LĐTBXH v/v ban hành Chương trình công tác lĩnh vực lao động,...
Công văn số 1092/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo tình hình triển khai ứng dụng công nghệ...Công văn số 1064/LĐTBXH-BHXH v/v giải đáp vướng mắc trong thực hiện Nghị định số...Thông báo về việc giới thiệu chức danh và chữ ký bà Lê Minh GiangCông văn số 1049/LĐTBXH-TCCB v/v đăng ký tham gia khóa Bồi dưỡng về hội nhập quốc tếCông văn số 1045/LĐTBXH-KHTC v/v tham dự Hội nghị tập huấn hướng dẫn quản lý, sử...Báo cáo công tác cải cách hành chính quý I năm 2019Quyết định số 261/QĐ-LĐTBXH về việc đổi tên Trường Cao đẳng nghề Đại An thành Trường...Công văn số 870/LĐTBXH-VP v/v báo cáo tổng kết thi hành Nghị định về công tác văn...Quyết định số 272/QĐ-LĐTBXH về việc thu hồi Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao...Quyết định số 260/QĐ-LĐTBXH v/v ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án "Tuyên...Quyết định số 259/QĐ-HĐPHPBGDPL về ban hành Kế hoạch hoạt động của Hội đồng phối hợp...Giấy mời số 780/GM-LĐTBXH tọa đàm về thực trạng và định hướng phát triển quan hệ lao...Công văn số 717/LĐTBXH-KHTC v/v thông báo thực hiện văn bản mới ban hànhCông văn số 697/LĐTBXH-TCCB v/v thống kê thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng...Công văn số 672/LĐTBXH-TE v/v hướng dẫn công tác trẻ em năm 2019Công văn số 665/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo tình hình giải ngân vốn đầu tư công năm 2018Công văn số 661/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2018Công văn số 661/LĐTBXH-KHTC v/v báo cáo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2018Công văn số 655/LĐTBXH-BĐG v/v mời tham dự Hội thảo tham vấn xây dựng kế hoạch thực...Công văn số 654/LĐTBXH-BĐG v/v cung cấp thông tin về các sản phẩm truyền thông về...Công văn số 616/LĐTBXH-TCGDNN v/v xin ý kiến về dự thảo Thông tư sửa đổi điểm m...Công văn số 51/KHLĐ-QLKH v/v báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ KH&CN năm 2019 và...Công văn số 596/LĐTBXH-TCGDNN v/v bổ sung lịch trình tổ chức các kỳ đánh giá kỹ năng...Công văn số 595/LĐTBXH-BĐG v/v báo cáo tình hình triển khai Mô hình Cơ sở trợ giúp...Công văn số 591/LĐTBXH-BTXH v/v tăng cường triển khai thưc hiện trợ giúp xã hội đối...Công văn số 566/LĐTBXH-KHTC v/v triển khai thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày...Công văn số 471/LĐTBXH-KHTC v/v thông báo thực hiện văn bản mới ban hànhV/v báo cáo công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL năm 2018Quyết định số 13/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao...Quyết định số 98/QĐ-LĐTBXH v/v ban hành Chương trình công tác lĩnh vực lao động,...