Thời kỳ phát triển - Giai đoạn 1945 – 1954

1. Bộ Lao động

Theo Tuyên cáo ngày 28 tháng 8 năm 1945, Bộ Lao động là một trong số 13 Bộ được thành lập đầu tiên trong Chính phủ cách mạng lâm thời do Hồ Chủ tịch đứng đầu, ông Lê Văn Hiến được cử làm Bộ trưởng. Nhiệm vụ chủ yếu của Bộ Lao động là giải quyết việc làm ở thành phố, xây dựng chế độ chính sách cho công chức. Lúc này tổ chức bộ máy của Bộ Lao động rất đơn giản.

 

Để đối phó với âm mưu của bọn đế quốc hòng tiêu diệt chính quyền non trẻ, Chính phủ lâm thời giải tán và lập Chính phủ liên hiệp, trong đó có Bộ Xã hội được thành lập vào ngày 2/3/1946 theo Quyết định của Đại hội Đại biểu toàn quốc. Sắc lệnh số 36/SL ngày 27/3/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định Bộ Xã hội có 3 Nha, trong đó có Nha Lao động Trung ương. Như vậy, tại thời điểm này Bộ Lao động tạm thời không còn. Sau đó, Chính phủ liên hiệp cải tổ, Bộ Lao động được thành lập lại theo Sắc lệnh 226/SL – CT ngày 28/11/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Tạo được cử làm Bộ trưởng. Bộ có 4 bộ phận: Văn phòng Bộ, Ban Pháp chế, Ban Thanh tra lao động và Ban Cố vấn. Nhiệm vụ của Bộ là thi hành luật lệ lao động và giải quyết những xích mích giữa chủ và thợ nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

 

Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến bùng nổ, Bộ Lao động chuyển lên an toàn khu Việt Bắc với nhiệm vụ chủ yếu là chỉ đạo việc cứu tế xã hội, phụ trách một số trại mồ côi và tiếp tục giải quyết nạn đói. Đến cuối năm 1947, cơ quan Bộ chuyển về Phú Thọ, Tuyên Quang với nhiệm vụ chủ yếu là phụ trách vấn đề tản cư và di cư của Trung ương. Thời kỳ này, vấn đề cung cấp nhân lực, tài lực, vật lực cho cuộc kháng chiến được đặt ra rất cấp thiết, nên ngày 15/5/1948 Bộ trưởng Bộ Lao động đã ban hành Nghị định 21/NĐ – LĐ thành lập phòng Giới thiệu công nhân tại Bộ Lao động và tại cơ quan lao động các liên khu với mục đích huy động công nhân, theo dõi phong trào thi đua ái quốc trong công nhân. Ở các địa phương, giao cho các Sở, Ty Lao động đảm nhận nhiệm vụ: huy động nhân công cung câp cho các ngành sản xuất, vận tải, tiếp tế, tìm việc làm và giới thiệu việc làm cho thợ thuyền, tổ chức các đoàn thợ cấy, thợ gặt … đưa đến các vùng khan hiếm nhân công.

 

Tháng 5/1951, Chính phủ giao thêm hai nhiệm vụ mới cho Bộ Lao động là tổng động viên nhân lực và thi đua ái quốc. Ngày 2/8/1952, Bộ Lao động ra Nghị định số 38/LĐ – NĐ thành lập Vụ Dân công, thực hiện huy động dân công phục vụ chiến dịch. Có thể nói, trong giai đoạn 1945–1954, các đơn vị trực thuộc Bộ ra đời thực hiện chức năng nhiệm vụ từng thời kỳ của Bộ Lao động đã góp phần quan trọng vào phong trào thi đua ái quốc, vận động hàng vạn công nhân, trí thức đi theo kháng chiến, phục vụ cho các chiến dịch mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử.

 

2. Bộ cứu tế xã hội

Bộ Cứu tế xã hội là một trong 13 Bộ được thành lập từ ngày đầu của Chính phủ cách mạng lâm thời do Hồ Chủ Tịch đứng đầu theo Tuyên cáo ngày 28/8/1945, ông Nguyễn Văn Tố được cử làm Bộ trưởng.

 

Nhiệm vụ của thời kỳ này của Bộ Cứu tế xã hội là phát động toàn dân tiết kiệm, nhường cơm sẻ áo cho đồng bào nghèo, thực hiện cứu trợ xã hội cho các đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống do thiên tai, bão lụt, mất mùa, tàn tật do chiến tranh. Tổ chức bộ máy đơn giản, số lượng cán bộ của Bộ Cứu tế xã hội cũng ít như Bộ Lao động. Để đối phó với âm mưu của bọn đế quốc hòng tiêu diệt chính quyền non trẻ, Chính phủ cách mạng lâm thời giải tán và Chính phủ liên hiệp ra đời thì Bộ Cứu tế xã hội không còn nữa.

 

3. Bộ Xã hội

Khi chính phủ cách mạng lâm thời giải tán và lập Chính phủ liên hiệp thì Bộ Xã hội được thành lập theo Quyết định của Đại hội đại biểu toàn quốc ngày 2/3/1946. Bộ Xã hội có 3 Nha, trong đó có Nha Cứu tế xã hội, Nha Lao động, Nha Lao động Trung ương. Trong thời kỳ này, do thấy rõ vai trò tích cực của công tác lao động đối với đời sống nhân dân lao động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL – CT ngày 8/5/1946 quy định rõ chức năng nhiệm vụ và tổ chức của các cơ quan lao động toàn cõi Việt Nam.

            -  Ở Trung ương có Nha Lao động nằm trong Bộ Xã hội;

            - Ở mỗi kỳ có một Nha Lao động kỳ do một  thanh tra viên lao động điều khiển;

            - Ở tỉnh có Phòng Lao động phụ trách công tác lao động trong tỉnh.

Tháng 3/1946 thành lập Ty Lao động ở thành phố Huế, Đà Nẵng, Vinh. Tiếp đến, ngày 13/8/1946 Bộ trưởng Bộ Xã hội ra nghị định thành lập Sở Lao động Hải Phòng, Kiến An, Quảng Yên, Hòn Gai, Cẩm Phả. Ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị do vấn đề lao động không phức tạp, không có xí nghiệp lớn nên công việc về lao động do Công đoàn tỉnh đảm nhận. Ở Nam Kỳ, khi chiến tranh bùng nổ, Sở Thanh tra lao động Sài Gòn bị địch chiếm, nên Sở Lao động được tổ chức ở Biên Hòa theo chỉ thị của Ủy ban kháng chiến Nam bộ.

 

4. Bộ Thương binh - Cựu binh

Bộ Thương binh – Cựu binh được thành lập theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ ngày 19/07/1947, Bác sĩ Vũ Đình Tụng được cử làm Bộ trưởng đầu tiên. Trước đó, công tác thương binh – liệt sỹ được giao cho Phòng Thương binh thuộc Chính trị Cục, Bộ Quốc phòng.

 

Tháng 7/1947, trong thư gửi Ban thường trực của Ban tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc, Bác Hồ đồng ý chọn ngày 27/7 hàng năm làm Ngày Thương binh toàn quốc “để đồng bào tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái với thương binh, bệnh binh, liệt sỹ”.

 

Sắc lệnh số 613/SL ngày 3/10/1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Bộ. Theo đó, Bộ Thương binh – Cựu binh gồm Văn phòng (Phòng Văn thư viên chức, Phòng Chính trị tổ chức, Phòng Kiểm tra) và các phòng sự vụ (Phòng Quản lý kế toán và vật tư, Phòng Nhân sự và hưu bổng, Phòng Chuyên môn). Cùng ngày, Hồ Chủ Tịch ra Sắc lệnh số 10/SL thành lập Sở và Ty Thương binh – Cựu binh trực thuộc Bộ Thương binh – Cựu binh ở các tỉnh. Ở cấp liên khu, có các khu thương binh Liên khu 10, Liên khu 3, Liên khu 4, Liên khu 5, Sở Thương binh Nam bộ. Cơ quan Bộ lúc này gọn nhẹ, biên chế trên dưới 10 người.

 

Tháng 6/1947 thành lập Trại điều dưỡng thương binh đầu tiên (An dưỡng đường số 1) tại xã Lục Ba, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Sau đó Bộ Thương binh – Cựu binh ra Quyết định số 51/BTB/QĐ tháng 7/1949 quy định thể lệ nhận thương binh vào các trại an dưỡng hoặc dạy nghề. Tháng 10/1949, Bộ Thương binh – Cựu binh ra Quyết định số 103/BTB – QĐ lập đoàn úy lạo thương binh và gia đình tử sĩ thuộc các Sở Thương binh – Cưu binh, đồng thời đề ra các chính sách kịp thời đối với công tác thương binh, liệt sỹ phục vụ cho cuộc đấu tranh giữ vững chính quyền, tiếp tục cách mạng giải phóng dân tộc.

 

Ngày 30/8/1950, Bộ Thương binh – Cựu binh ra Nghị định số 367/NĐ tổ chức các trại an dưỡng, huấn luyện và tự cung cho các thương binh, bệnh binh.