Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Tác động của quy luật kinh tế thị trường đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay

24/02/2012

Thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách đang rất quan tâm đến chất lượng nguồn nhân lực (NNL) cũng như việc thu hút, sử dụng như thế nào cho có hiệu quả? Bởi lẽ, đây được coi là chìa khoá để tăng trưởng, phát triển bền vững và cạnh tranh hiệu quả trong kỉ nguyên của kinh tế tri thức và toàn cầu hoá kinh tế.

Vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Ở Việt Nam cụm từ nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) mới được đề cập nhiều từ khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất cũng như những tiêu chí cơ bản để xác định thế nào là NNLCLC. Về vấn đề này C.Mác đã từng quan niệm: “Nền công nghiệp do toàn xã hội thực hiện một cách tập thể và có kế hoạch lại càng cần có những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất”. Ông cũng phân tích “lao động giản đơn” và “lao động phức tạp” và kết luận: lao động phức tạp (lao động được đào tạo) là bội số của lao động giản đơn. Các nhà kinh tế học cũng cho rằng: NNL mà hạt nhân của nó là lao động kĩ thuật là toàn bộ thể lực, trí lực với trình độ chuyên môn, kĩ năng mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập vượt trội trong tương lai. Theo đó, có ba loại nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển là: người lao động thể lực; chuyên gia lành nghề và những người có ý tưởng sáng tạo.

NNLCLC là bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật cao, thích ứng nhanh với những thay đổi

Theo chúng tôi, NNLCLC là bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật cao; có kĩ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; có sức khoẻ và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kĩ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao.

Đối với nước ta, phát triển NNLCLC là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn mới. Và khi bàn về vấn đề này, các nhà khoa học thường tập trung vào lí giải tính khách quan, thực trạng, vai trò cũng như giải pháp phát triển NNLCLC. Tuy nhiên, cần đặt vấn đề phát triển NNLCLC trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để  thấy rõ sự tác động của các quy luật kinh tế. Việc phân tích những tác động của quy luật kinh tế thị trường sẽ là căn cứ quan trọng để xác định đặc điểm, yêu cầu cũng như những giải pháp phù hợp để phát triển NNLCLC ở nước ta hiện nay.

Xem xét tác động của quy luật kinh tế thị trường đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta

Trong nền kinh tế thị trường có sự vận động của nhiều quy luật kinh tế, mỗi quy luật có vị trí, vai trò và tác động không giống nhau, đồng thời đan xen tác động lẫn nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết chỉ đề cập đến sự tác động của ba quy luật kinh tế cơ bản đến phát triển NNLCLC ở nước ta.   

Tác động của quy luật giá trị

Quy luật giá trị là quy luật cơ bản của nền sản xuất hàng hoá, nó quy định mặt chất và sự vận động về mặt lượng của giá trị hàng hoá. Theo đó, việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết; trao đổi theo nguyên tắc ngang giá. 

Căn cứ vào yêu cầu của quy luật giá trị, trên thị trường sức lao động, nếu ai cung cấp được chất lượng lao động tốt hơn, phù hợp với yêu cầu của các nhà tuyển dụng sẽ có thu nhập cao. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nếu xét một cách tổng thể thì sự ổn định việc làm chỉ mang tính tương đối. Mặc dù người lao động có nhiều cơ hội lựa chọn việc làm theo khả năng của mình song họ cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, thậm chí thất nghiệp. Để sức lao động của mình được trả giá cao, trở thành nhân sự khó có thể thay thế, người lao động cần được đào tạo có trình độ chuyên môn tay nghề giỏi, có sức khoẻ, ngoại ngữ và tác phong làm việc công nghiệp. Quá trình đào tạo đó phải tính đến hiệu quả kinh tế, đào tạo để rèn luyện kĩ năng làm việc chứ không phải vì bằng cấp. Đối với các cơ sở đào tạo, nếu chất lượng đào tạo tốt, giá cả thấp hơn sẽ thu được số lượng khách hàng (người học và người sử dụng sản phẩm được đào tạo) nhiều hơn. Vì vậy, quy luật giá trị đặt ra yêu cầu tiên quyết là vấn đề chất lượng lao động. Trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, kinh tế tri thức được coi là chìa khóa cho sự phát triển thì ai có khả năng cung cấp chất lượng lao động tốt dựa trên hao phí đào tạo thấp sẽ giành được lợi thế để phát triển và ngược lại. Điều đó được thể hiện ở năng suất, sản phẩm cận biên của lao động cũng như sự thích ứng của con người sau khi được đào tạo trước đòi hỏi của kinh tế thị trường. Song trên thực tế yêu cầu này vẫn đang là vấn đề nan giải khi đến nay ở nước ta lao động đã qua đào tạo theo các loại hình và trình độ khác nhau mới đạt khoảng trên 31,5%. Năng suất lao động của nước ta đạt thấp khi chỉ đứng thứ 77/125 nước và vùng lãnh thổ, sau cả Indonesia, Philipine và Thái Lan. Hệ thống các trường đại học, cao đẳng tham gia đào tạo NNLCLC chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động trong và ngoài nước. Theo Viện Quản lí nhà nước dân chủ và đổi mới (ASH) của Trường công Kennedy thuộc Đại học Harvard thì Việt Nam không có trường đại học nào được ghi nhận trên bất kì bảng xếp hạng quen thuộc các đại học hàng đầu châu Á. Vì vậy, quy luật giá trị đòi hỏi để phát triển NNLCLC, Việt Nam cần cải cách để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, thực hiện chủ trương nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đào tạo phải đạt hiệu quả kinh tế, đáp ứng được nhu cầu của xã hội, của thị trường và doanh nghiệp. Cũng theo ASH thì qua các cuộc khảo sát cho thấy có tới 50% sinh viên Việt Nam tốt nghiệp đại học đã không thể tìm được việc làm phù hợp với chuyên môn của họ. Điều này chứng tỏ có một khoảng cách rất lớn giữa giảng đường và thị trường sức lao động cũng như có sự lãng phí ghê gớm trong giáo dục và đào tạo nhân lực ở nước ta.

Xem xét tác động của quy luật cạnh tranh

Hiện nay, ở nước ta sức lao động được thừa nhận là một loại hàng hoá và tất nhiên nó cũng bị chi phối theo quy luật thị trường. Người làm giỏi được lương cao, người làm dở chịu lương thấp và có nguy cơ bị sa thải. Sự cạnh tranh trong việc chào bán sức lao động là một yếu tố thúc đẩy từng cá nhân và toàn xã hội nỗ lực làm việc, tự đào tạo nâng cao chất lượng lao động của mình. Nhiều chuyên gia trên các lĩnh vực đều thống nhất quan điểm: nếu muốn tồn tại và phát triển trong một "thế giới phẳng" nhưng cạnh tranh khốc liệt hiện nay thì vượt lên trên lợi thế về tài nguyên, vị trí địa lí chính là yếu tố chất lượng nguồn nhân lực và việc sử dụng nó hiệu quả nhất. Thực tế cho thấy, khi kinh tế tăng trưởng thì cạnh tranh trên thị trường sức lao động biểu hiện rõ nhất ở vị trí, địa bàn làm việc và thu nhập của các chủ thể tham gia. Nhưng khi kinh tế suy thoái, khủng hoảng thì vấn đề cạnh tranh để không bị sa thải là điều người lao động quan tâm nhất. Hiện nay năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta còn thấp, chủ yếu là do sức cạnh tranh của lực lượng lao động chưa cao. Lao động giá rẻ chỉ là một lợi thế nhất định trong một thời gian cụ thể, chúng ta phải hướng tới lao động có kỹ thuật cao nhưng giá rẻ hơn lao động cùng loại ở các nước khác. Trong bối cảnh hội nhập, lực lượng lao động trình độ cao của nước ta không chỉ cạnh tranh khi tiến hành xuất khẩu lao động mà còn có sự cạnh tranh gay gắt với lao động nước ngoài ngay trên thị trường trong nước.

Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, hiện cả nước có hơn 75.000 lao động nước ngoài đang làm việc ở nhiều trình độ khác nhau. Không ít doanh nghiệp cho biết họ phải sử dụng lao động nước ngoài vì nhiều vị trí không thể tìm được lao động Việt Nam thích hợp.Theo đánh giá mới của Ngân hàng thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực hiện nay của Việt Nam mới chỉ đạt 3,19 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước châu Á tham gia xếp hạng. Một nghiên cứu khác cho thấy lao động Việt Nam chỉ đạt 32/100 điểm. Trong khi đó những nền kinh tế có chất lượng lao động dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Ở một số lĩnh vực như: ngân hàng, y tế, v.v... có tới 40% tổng số lao động có thu nhập từ 14.000 USD/năm trở lên thuộc người nước ngoài. Năm 2009, Tập đoàn Intel tại TP. Hồ Chí Minh tiến hành một cuộc thi tuyển với 2000 sinh viên ngành công nghệ thông tin thì chỉ 90 ứng viên (5%) đạt tiêu chuẩn. Và trong nhóm này chỉ có 40 người vừa hội đủ trình độ ngoại ngữ và đáp ứng kĩ năng, yêu cầu làm việc.
 Đối với các cơ sở đào tạo NNL, muốn đứng vững trong cạnh tranh phải để thị trường đánh giá chất lượng đào tạo. Các nhà trường cần chuyển đổi theo tư duy đào tạo theo nhu cầu xã hội, tức là dạy những cái người học và doanh nghiệp đang cần chứ không chỉ dạy những gì mà mình có. Tác động của quy luật cạnh tranh trên thị trường sức lao động là “mệnh lệnh” để mỗi người, mỗi cơ sở đào tạo không ngừng đổi mới và phát triển theo yêu cầu của thực tiễn. Ở nước ta thời gian gần đây đang xúc tiến việc xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế, đây là một chủ trương rất đúng đắn. Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta cũng cần triển khai xây dựng trường cao đẳng nghề đạt trình độ quốc tế. Bởi lẽ, các trường này là một kênh cung cấp lực lượng lao động kỹ thuật cao trên thị trường trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, cần xây dựng chiến lược cạnh tranh về nhân lực quốc gia với những tiêu chí cụ thể theo từng lĩnh vực, lấy  NNLCLC là lực lượng nòng cốt, trên cơ sở đó xây dựng được thương hiệu về chất lượng lao động Việt Nam trên thị trường lao động khu vực và thế giới.

Tác động của quy luật cung - cầu

Quan hệ cung - cầu trên thị trường sức lao động là một cân bằng động, vì vậy trong ngắn hạn và dài hạn nó có thể đạt các trạng thái khác nhau nhưng đối với lao động trình độ cao vẫn luôn trong trạng thái cung không đủ cầu. Ở nước ta vẫn đang xảy ra tình trạng các doanh nghiệp rất cần tuyển dụng lao động trình độ cao. Căn nguyên của tình trạng này chính là sự phát triển của nền kinh tế tri thức, một nền kinh tế đòi hỏi rất cao tỷ trọng của hàm lượng chất xám kết tinh trong hàng hoá. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ có thể đáp ứng được 35 đến 40% nhu cầu nhân sự bậc cao của các doanh nghiệp. Không ít doanh nghiệp sẵn sàng trả mức lương từ 5.000 đến 10.000 USD/ tháng kèm theo là nhiều khoản ưu đãi, phúc lợi khác để chiêu dụ nhân tài nhưng vẫn chưa hẳn tìm được nhân sự phù hợp. Nhiều doanh nghiệp đã và đang có phương án nhập khẩu lao động chất lượng cao từ nước ngoài vào Việt Nam.  Dự báo khi kinh tế thế giới hồi phục và tăng trưởng trở lại thì cầu về lao động sẽ tăng mạnh, do vậy người lao động nên tranh thủ thời điểm hiện nay để đào tạo và đào tạo lại. Bởi lẽ, sau suy thoái việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra rất mạnh mẽ, xuất hiện những công nghệ, ngành nghề mới và đi cùng với nó là nhu cầu rất lớn về lao động trình độ cao. Vì vậy, cần chủ động có kế hoạch, phương án chuẩn bị lực lượng lao động tốt nhất để tham gia có hiệu quả vào thị trường sức lao động trong và ngoài nước. Đây là đặc điểm nổi bật cũng là cơ hội cần tận dụng để tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững của doanh nghiệp và đất nước trong tương lai.


Xem