Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Tác động của khủng hoảng tài chính đối với công nhân nữ nhập cư và nguy cơ mua bán người

08/09/2009

Đó là nội dung của hội thảo do Trung tâm Hợp tác Phát triển Nguồn nhân lực (C & D) và Tổ chức Actionaid phối hợp tổ chức sáng ngày 8/9/2009 tại Hà Nội.

Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu, tình hình sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam bị đình trệ dẫn đến tình trạng công nhân bị mất việc và thiếu việc làm, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Điều này đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới việc làm và thu nhập của nhiều người lao động. Trong bối cảnh đó, những nhóm lao động yếu thế, đặc biệt là công nhân nữ nhập cư đã và đang chịu nhiều tác động tiêu cực. Việc làm, thu nhập của công nhân nữ nhập cư vốn dĩ đã bấp bênh nay lại càng trở nên khó khăn hơn. Nó kéo theo nhiều rủi ro và vấn đề xã hội phức tạp phát sinh, trong đó có nguy cơ về mua bán người.

Nhằm có đánh giá bước đầu về tác động của khủng hoảng tài chính – kinh tế đối với việc làm, thu nhập, đời sống của công nhân nữ nhập cư và mối liên hệ với nguy cơ mua bán người, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn những địa bàn một số thành phố công nghiệp có tính chất đại diện của vấn đề nghiên cứu, đó là: Xã Kim Chung, huyện Đông Anh, Hà Nội (có khoảng 20 nghìn công nhân nhập cư, 70% là nữ); Phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (có khoảng 29 nghìn công nhân nhập cư, 65% là nữ); phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (60 nghìn công nhân nhập cư, 75% là nữ).

Theo báo cáo kết quả nghiên cứu, chỉ có 28% nữ công nhân nhập cư có hợp đồng lao động không xác định thời hạn (Hà Nội là 15%, Đà Nẵng: 17%). 10% công nhân nữ nhập cư đang ký hợp đồng miệng hoặc không ký hợp đồng lao động, 24% đang ký hợp đồng thời hạn dưới 12 tháng ngay cả khi đang làm những công việc có tính chất thường xuyên, không có tính chất thời vụ. Trên thực tế, phần lớn lao động nữ nhập cư chỉ được doanh nghiệp ký hợp đồng ngắn hạn thay vì phải chuyển sang hợp đồng không xác định thời hạn theo qui định của pháp luật. Tính chất bấp bênh còn thể hiện ở chỗ có 36% công nhân nữ nhập cư đã từng chuyển nơi làm việc 1 - 5 lần trong 5 năm qua. Theo ý kiến của nhiều công nhân, cường độ và thời gian lao động hiện nay đã giảm căng thẳng hơn so với năm 2008 do doanh nghiệp nhận được ít đơn đặt hàng hơn nhưng nhìn chung vẫn còn ở mức cao, nhiều nơi vẫn trong tình trạng rất căng thẳng: 69% lao động nữ nhập cư được hỏi làm việc 48 giờ/tuần; 13% làm việc 49 – 56 giờ/tuần; 5% làm việc 64 – 72 giờ/tuần; 15% làm việc 9 – 11 giờ/ngày, 7% làm việc 12 giờ/ngày và 1% làm việc trên 12 giờ/ngày.

Để tăng sản lượng mà không mất thêm chi phí sản xuất, một số doanh nghiệp đã cố tình đưa ra đơn giá sản phẩm thấp hoặc đặt ra những chỉ tiêu sản xuất cao, do đó tiền lương, tiền công được trả chưa tương xứng với thời gian, công sức của người lao động. Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ công nhân nữ nhập cư tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tại địa bàn nghiên cứu khá cao (Hà Nội: 91%; Đà Nẵng: 81%; Thành phố Hồ Chí Minh: 85%), tuy nhiên mức đóng bảo hiểm xã hội do doanh nghiệp thực hiện thường thấp hơn so với qui định.

Tiền lương và thu nhập thực tế của hầu hết công nhân nữ nhập cư từ nơi làm việc giảm so với trước (bình quân từ 15 – 30%) nên người lao động phải chi tiêu tiết kiệm, kham khổ hơn, nhất là những người phải tiết kiệm tiền để gửi về hỗ trợ gia đình, người thân. Phần lớn chị em tự mua thực phẩm về nấu thay vì ăn ở các quán ăn bình dân, mức chi bình quân chỉ là 3.000 – 7.000 đồng/bữa. 42% nữ công nhân thỉnh thoảng và 8% phải thường xuyên phải cầm đồ, vay lãi hoặc mua chịu để lấy tiền sinh sống. Thời gian gần đây tình trạng người lao động chậm đóng tiền nhà, tiền điện, mua chịu hàng hóa… tăng nhiều so với trước. Nhiều người thấy cuộc sống hiện nay khó khăn hơn nhiều so với 1- 2 năm trước. So với cùng kỳ năm 2008, 37% chị em thấy thu nhập và cuộc sống “xấu hơn, khó khăn hơn”; 10% thấy cuộc sống “xấu hơn, khó khăn hơn rất nhiều”. Tỷ lệ công nhân nữ nhập cư có thu nhập và cuộc sống khó khăn hơn cả là Hà Nội: 56%, tiếp đến là Đà Nẵng (45%) và Thành phố Hồ Chí Minh: 42%.

Cũng trong cuộc điều tra, đã có nhiều thông tin được cung cấp về biểu hiện có sự tham gia của một số công nhân nữ nhập cư vào hoạt động mại dâm, làm việc ở những cơ sở “nhạy cảm” như massage, karaoke “ôm”, nhà nghỉ, cắt tóc – gội đầu – giải khát – thư giãn… trên địa bàn cư trú hoặc ở những địa bàn lân cận. Nhiều người đã khẳng định và kể tới một số trường hợp bị lừa phỉnh, cưỡng ép… buộc phải đi bán dâm, làm thêm ở những nơi nhạy cảm về mại dâm, lừa đi hoạt động mại dâm ở nước ngoài.

Khi bị giảm hoặc mất việc làm, giảm thu nhập, trên 90% công nhân nữ nhập cư đều xác định sẽ tìm kiếm một công việc mới (kể cả công việc có điều kiện lao động thấp kém hơn), ít người lựa chọn phương án trở về quê. Bất chấp khủng hoảng kinh tế, doanh nghiệp ít tuyển dụng lao động hơn, nhiều lao động nữ nông thôn vẫn tìm đường lên thành thị để tìm kiếm việc làm. Chính vì vậy, việc chấp nhận một công việc nhiều rủi ro, bất chấp hậu quả là điều dễ xảy ra, nhiều chị em dễ bị lợi dụng, dụ dỗ, lừa gạt vào con đường mại dâm, lấy chồng nước ngoài./.

Thảo Lan

Xem