Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Cần thiết lập cơ chế quản lý tiền lương trong các doanh nghiệp

01/07/2009

Khi bàn về vấn đề trả lương trong các doanh nghiệp (DN), người ta thường đề cập đến bài toán phân chia “miếng bánh lợi ích” giữa giá trị thặng dư thuộc người sử dụng lao động và phần tiền lương cho người lao động. Lợi ích kinh tế và những lợi ích liên quan đều được cả hai bên hướng tới, tất yếu họ sẽ vận dụng mọi loại “vũ khí’’ để đạt được mục đích. Vũ khí của DN là sa thải công nhân, ép buộc họ phải chấp nhận mức lương thấp trong điều kiện thị trường dư thừa lao động, còn vũ khí của người lao động (NLĐ) lại là đình công, bế xưởng… Điều này giải thích tại sao trong số gần 2500 vụ đình công ở nước ta trong khoảng thời gian từ 1995 trở lại đây, có tới 90% xuất phát từ nguyên nhân tiền lương.

Để hạn chế mâu thuẫn đó, Chính phủ đã tham gia quản lý vấn đề tiền lương với tư cách là bên thứ ba trong quan hệ lao động và giữ vai trò quyết định các vấn đề chủ yếu về tiền lương. Đồng thời, quy định các khung thể chế để cơ chế hai bên hoạt động. Các tổ chức phi Chính phủ (NGOs) cũng vào cuộc để giải quyết vấn đề này. ở tầm quốc tế, ILO đã đưa ra nhiều công ước và khuyến nghị quốc tế về tiền lương như Công ước số 131 về ấn định tiền lương tối thiểu. ở mức độ thấp hơn, một số NGOs quốc tế đã đưa ra các bộ quy tắc ứng xử (CoC) như SA 8000, WRAP, FLA, … trong đó có quy định về vấn đề tiền lương. Các bộ CoC này được đưa ra dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế về lao động và môi trường, nó buộc các DN “tự nguyện” thực hiện nếu muốn xuất khẩu hàng hoá vào một số thị trường nào đó. Thực trạng tiền lương trong các doanh nghiệp Việt Nam Kết quả điều tra tại 75 doanh nghiệp thuộc 5 ngành về tiền lương vào thời điểm tháng 8/2008 cho kết quả cụ thể là mức lương trung bình mà NLĐ được hưởng là 2.667.000 đồng/ tháng, cao nhất ở ngành Khai thác mỏ (3.760.000 đồng/tháng), sau đó đến ngành Dịch vụ – Thương mại (2.452.000 đ/tháng), Xây dựng (2.119.000đ/tháng), Da Giầy – Dệt May (1.722.000 đ/tháng) và thấp nhất là ngành Thuỷ sản (1.660.000 đ/tháng). Kết quả điều tra cũng cho thấy, tiền lương trung bình cao nhất ở các DN Nhà nước (3.073.000 đ/tháng), sau đó đến các DN dân doanh (2.243.000 đ/tháng) và thấp nhất ở DN có vốn đầu tư nước ngoài (1.780.000 đồng/tháng). Số liệu này trái ngược với số liệu của một số cuộc điều tra trước đây, theo đó, mức lương trung bình cao nhất ở các DN có vốn đầu tư nước ngoài, sau đó đến DN Nhà nước và thấp nhất là ở các DN dân doanh. Các số liệu dưới đây có thể là một phần lý giải vì sao trong thời gian gần đây, số các vụ đình công nhiều nhất ở các DN FDI và thấp nhất ở các DNNN. Quy định trong các bộ CoC quốc tế luôn nhấn mạnh tiền lương phải đảm bảo được cuộc sống cho NLĐ và chỉ tiêu cần quan tâm nhất là mức lương thấp nhất và mức lương trung bình. Song theo kết quả điều tra, mức lương thấp nhất tính trung bình cho một DN tư nhân ở ngành Thuỷ sản chỉ là 550.000 đồng/tháng, thấp hơn 2,27 lần so với mặt bằng chung. Nếu lưu ý rằng các DN ngành Thuỷ sản được điều tra chủ yếu nằm ở trên 3 thành phố có mức độ đắt đỏ cao nhất nước (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng) thì mức lương trên thật sự không đảm bảo cuộc sống cho NLĐ. Theo đánh giá của lãnh đạo công đoàn DN, chỉ có 44,2% số ý kiến được hỏi khẳng định rằng nếu làm việc dưới 49h/tuần, NLĐ sẽ đảm bảo mức sống bình thường (nuôi bản thân và nuôi con nhỏ). Tỷ lệ này cao nhất ở ngành Khai thác mỏ (90%), sau đó đến Dịch vụ – Thương mại (45,5%), Xây dựng (44,4%), Thuỷ sản (14,3%). Đặc biệt, với ngành Da giầy – Dệt may không có ý kiến nào khẳng định NLĐ có thể đủ sống mà không phải làm thêm giờ. Những số liệu này minh chứng một điều là trong điều kiện làm việc không quá 48 giờ/ tuần, phần lớn các DN không đảm bảo được mức sống cho NLĐ. Có nghĩa là, việc thực hiện trách nhiệm xã hội (TNXH) trong lĩnh vực tiền lương chưa được thực hiện tốt. Cũng theo đánh giá của cán bộ công đoàn, các phúc lợi tài chính của các DN chưa thật sự làm hài lòng NLĐ. Tính bình quân cho tất cả các ngành, tỷ lệ cán bộ công đoàn đánh giá NLĐ trong DN của họ hài lòng và rất hài lòng với các phúc lợi tài chính của DN chỉ chiếm 55,1%. Các quy định về thực hiện TNXH trong lĩnh vực tiền lương đều nói rõ, tiền lương cùng với các khoản thù lao và phúc lợi khác của DN phải đảm bảo tính công khai minh bạch, NLĐ phải biết rõ cách tính lương, thưởng, các khoản thù lao và phúc lợi, đồng thời phải tự tính được thu nhập của mình. Tuy nhiên, trong vấn đề này, việc phân biệt đối xử theo ý kiến của cả 4 nhóm đối tượng được hỏi là lãnh đạo DN, lãnh đạo phòng nhân sự, lãnh đạo công đoàn và nhân viên TNXH hầu như ít được đặt ra. 100% số ý kiến được hỏi đều khẳng định rằng, tiền lương được trả dựa trên mức độ đóng góp của NLĐ đối với DN. Trong số các ý kiến của công đoàn và nhân viên phụ trách TNXH, ch
Xem