Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Sign In

Bài học từ các vụ ngừng việc tập thể ở Vĩnh Long

13/05/2011

Vĩnh Long hiện có trên 300 doanh nghiệp (DN) đủ điều kiện thành lập công đoàn cơ sở với hơn 23.000 lao động. Riêng Khu công nghiệp Hòa Phú hiện có 16/19 DN đang hoạt động có tổ chức công đoàn cơ sở, thu hút trên 14.000 lao động trong và ngoài tỉnh đến làm việc. Và từ một khu vực có đông lao động như vậy, đình công, ngừng việc tập thể là chuyện có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nếu DN thiếu sự quan tâm.

Thực hiện Chỉ thị 22/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong DN, các DN trên địa bàn, nhất là các DN đã thành lập công đoàn cơ sở có nhiều quan tâm trong công tác chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động (NLĐ) như: tư vấn cho NLĐ ký hợp đồng lao động (HĐLĐ) đúng luật; đại diện NLĐ tham gia các bước xây dựng, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể (LĐTT) với người sử dụng lao động với các điều, khoản không chỉ đúng luật mà còn có lợi hơn cho NLĐ; giám sát việc thực hiện HĐLĐ và thỏa ước LĐTT, nội quy lao động, quy chế, các chế độ chính sách,… đảm bảo quyền lợi NLĐ; giảm thiểu các tranh chấp về lao động, góp phần xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa trong DN; phát huy quyền dân chủ, tạo điều kiện cho NLĐ tham gia đóng góp ý kiến xây dựng DN, phát huy sáng kiến cải tiến, nâng cao chất lượng hiệu quả kinh doanh, góp phần làm lợi cho DN… Kết quả là qua 2 năm thực hiện Chỉ thị 22/CT-TW trên địa bàn, số NLĐ được tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ở các DN đã nâng lên 65%; số DN ký thỏa ước lao động tập thể 64%; NLĐ được ký HĐLĐ 92%. Tuy nhiên, tranh chấp lao động, đình công tuy vẫn còn xảy ra.
Điều đáng nói là tất cả các cuộc đình công, tranh chấp lao động vừa qua đều bất hợp pháp vì không tuân theo các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục; không qua hòa giải, trọng tài, không do công đoàn tổ chức lãnh đạo, không lấy ý kiến của NLĐ, không báo trước... trong khi phần lớn nội dung yêu cầu của tập thể lao động trong các cuộc ngừng việc tập thể, đình công nói trên đều chính đáng.
Điển hình gần đây nhất là các cuộc ngừng việc tập thể ở Công ty TNHH Bohsing và Công ty TNHH Thực phẩm Phú Quí (Khu công nghiệp Hòa Phú) trong các ngày cận Tết Nguyên Đán vừa qua.
Công ty TNHH Bohsing là DN có vốn đầu tư nước ngoài, sản xuất kinh doanh nghề may mặc, hoạt động từ tháng 8/2009, hiện có 2.167 lao động. Trong quá trình hoạt động, công ty đã thực hiện đầy đủ các thủ tục hoạt động kinh doanh, đăng ký thỏa ước LĐTT, nội quy lao động, thang bảng lương và các chính sách cho NLĐ theo quy định… Tuy nhiên, từ ngày 17 đến ngày 21/1/2011 đã xảy ra tình trạng ngừng việc tập thể với số công nhân tham gia lên đến hơn 1.000 người, yêu cầu thực hiện một số chính sách lao động theo quy định: không được trừ lương tháng 13, thực hiện thưởng A, B, C theo tỷ lệ phần trăm lương căn bản, công nhân làm việc đủ năm phải lên lương, được thanh toán tiền thêm giờ các ngày không nghỉ phép năm và một số chế độ trợ cấp khác như: tiền ăn, tiền tàu xe, tiền chuyên cần,…
Sau 5 ngày ngừng việc, với sự tham gia giải quyết của các ngành chức năng: Liên đoàn Lao động, Sở Lao động- Thương binh và Xã hội, Ban Quản lý khu công nghiệp, Công đoàn các khu công nghiệp và một số sở, ban ngành tỉnh, đã tổ chức cho NLĐ đối thoại trực tiếp với các ngành chức năng và chủ DN. Sau khi rà soát lại các chính sách mà công ty đã thực hiện cho NLĐ, bước đầu chủ DN đã thống nhất khắc phục giải quyết theo yêu cầu NLĐ một số sai sót về tiền thưởng cuối năm theo 3 mức A, B, C căn cứ theo kết quả bình bầu từ tổ; về lương tháng 13 sẽ chi 100% cho NLĐ theo cấp bậc; nâng lương, chi tiền lương của những ngày không nghỉ phép năm theo quy định, trả lương cho toàn thể công nhân lao động trong những ngày ngừng việc; đồng thời ghi nhận một số yêu cầu về chế độ chính sách và công ty sẽ phối hợp các ngành chức năng xem xét giải quyết tiếp.
Sau hơn 2 tháng kể từ ngày xảy ra sự việc, ngày 25/3/2011, chúng tôi tiếp tục có cuộc tiếp xúc với ông Vũ Anh Tuấn– Trưởng Ban Chính sách pháp luật Liên đoàn Lao động tỉnh xem tất cả các yêu cầu của công nhân đã được giải quyết thỏa đáng chưa. Ông cho biết: “Đến thời điểm này, công ty đã phối hợp các ngành chức năng xem xét và giải quyết khá tốt các chế độ chính sách cho NLĐ như: thanh toán tiền nghỉ phép năm 2010 theo quy định 300% cho 1.262 lao động; tiền xăng tăng từ 7.000 lên 8.000 đ/ngày, tiền ăn 8.000 lên 9.000 đ/ngày; tiền chuyên cần từ 100.000 lên 200.000 đ/người/tháng…”
Còn ở Công ty TNHH Thực phẩm Phú Quí, thời điểm tháng 1/2011, tuy công ty đã ngừng sản xuất từ tháng 10/2010 nhưng 42 công nhân của công ty vẫn được duy trì làm nhiệm vụ bảo trì và vệ sinh máy móc thiết bị, có nghĩa là số công nhân trên vẫn phải được trả lương từ tháng 11/2010 đến tháng 1/2011, nhưng đến ngày 20/1/2011 họ vẫn chưa được trả lương tháng 12/2010 trong khi ngày tết đã cận kề, bao thứ chi tiêu họ đang cần có lương để giải quyết. Vì vậy, trong 2 ngày 19 và 20/1/2011, số công nhân trên đã ngưng việc yêu cầu trả lương tháng 12/2010 và ứng ít nhất 70% lương tháng 1/2011. Cũng như vụ việc ở Công ty TNHH Bohsing, Liên đoàn Lao động tỉnh và các ngành chức năng đã vào cuộc, yêu cầu công ty trả lương cho công nhân theo quy định, chậm nhất đến ngày 28/1/2011 và động viên công nhân tiếp tục thực hiện hợp đồng đã giao ước.
Có thể nói, dù rằng cách thức, trình tự, thủ tục ngừng việc tập thể của công nhân Công ty TNHH Bohsing, Công ty TNHH Thực phẩm Phú Quí là chưa theo đúng quy định của pháp luật, nhưng xét xuất phát điểm các yêu cầu của công nhân là chính đáng, nên Liên đoàn Lao động tỉnh và các ngành chức năng đã yêu cầu chủ DN giải quyết các yêu cầu của công nhân và được chủ DN phối hợp khá tốt trong giải quyết, là một thành công của tổ chức Công đoàn.
Qua kết quả giải quyết vụ việc trên, thiết nghĩ các cấp công đoàn cần rút kinh nghiệm trong chỉ đạo các công đoàn cơ sở DN thời gian tới:
Một là, DN phải thực hiện tốt chủ trương xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong DN. Trong đó, phân phối lợi ích phải đảm bảo hài hòa như: lợi ích DN, Nhà nước và người lao động.
Hai là, các cấp công đoàn, nhất là công đoàn cơ sở phải rà soát việc thực hiện chính sách với NLĐ; chủ động đàm phán với chủ DN để điều chỉnh bổ sung cho phù hợp và đúng luật định. Hàng năm, phối hợp chủ DN tổ chức đại hội công nhân viên chức, hội nghị NLĐ đúng theo nội dung, đảm bảo dân chủ. Trong đó nhất thiết phải xem xét bổ sung thỏa ước lao động tập thể (nếu cần).
Ba là, các cấp công đoàn phối hợp tốt các ngành hữu quan kiểm tra giám sát chính sách pháp luật lao động đối với DN, nhằm chủ động ngăn ngừa tranh chấp lao động.
Bốn là, làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền giáo dục, vận động công nhân viên chức- lao động hiểu rõ chủ trương, chính sách pháp luật, nhất là Luật Lao động, Luật Công đoàn. Từ đó mà thực hiện tốt pháp luật, không để vi phạm pháp luật.
Năm là, khi xảy ra tranh chấp, ngừng việc… cần có biện pháp tiếp cận lực lượng công nhân lao động nắm rõ nguyện vọng, yêu cầu… phối hợp các ngành hữu quan và chủ DN xem xét về pháp luật, khả năng điều kiện của DN, thống nhất giải quyết một lần, tránh việc “nhả từng bước”, đồng thời giải thích giáo dục NLĐ phải vì lợi ích của mình và DN, tránh “được voi đòi tiên”.
Xem