Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền trình bày tờ trình Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi)

11/5/2011 10:31:34 AM

Chiều 4/11/2011, trong phiên họp toàn thể của Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ đã trình bày tờ trình về dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi). Dự thảo Bộ luật lao động (sửa đổi) gồm 17 chương và 273 điều (giữ nguyên 52 điều, sửa đổi 157 điều và bổ sung mới 64 điều), quy định về các nội dung chính: Phạm vi điều chỉnh, tiền lương và tiền lương tối thiểu, hợp đồng lao động, thương lượng tập thể và thoả ước lao động tập thể, giải quyết tranh chấp lao động và đình công, quyền nghỉ hưu...


So với quy định về hợp đồng lao động hiện hành, Dự thảo sửa đổi quy định về phân loại hợp đồng lao động, theo đó bỏ giới hạn 36 tháng đối với hợp đồng lao động có thời hạn xác định từ đủ 12 tháng trở lên. Quy định thời hạn (15 ngày) bắt buộc để ký hợp đồng lao động bằng văn bản đối với người lao động làm việc theo loại hợp đồng xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên. Nâng mức tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc để bảo đảm quyền lợi cho người lao động (85% so với 70% hiện hành). Quy định cụ thể hơn các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động; cách tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm...

Về tiền lương, việc sửa đổi, bổ sung tập trung vào các vấn đề như: Tiền lương tối thiểu phải bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và mức tiền lương, tiền công trên thị trường.

Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, dự thảo quy định thời giờ làm thêm tối đa trong một năm đối với tất cả các nhóm ngành nghề được tăng lên khoảng 360 giờ.

Dự thảo nâng thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ làm việc trong điều kiện lao động bình thường từ 4 tháng lên 5 tháng. Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định nêu trên, nếu có nhu cầu và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất 4 tháng cộng lại trước và sau sinh.

Dự thảo cũng quy định chỉ cần trên 50% số người được lấy ý kiến đồng ý đình công (không phụ thuộc vào số lượng người lao động ở doanh nghiệp) và cũng bỏ hội đồng hòa giải cơ sở, vì trong thực tế không thể hòa giải được.

Về thời gian nghỉ thêm 01 ngày trong dịp tết Nguyên đán, tờ trình cho rằng, việc tăng thời gian nghỉ tết âm lịch và nghỉ lễ hàng năm là chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, vấn đề này vừa qua chưa được nghiên cứu, trao đổi kỹ trong quá trình sửa đổi Bộ luật Lao động, chưa được sự tham gia ý kiến của người sử dụng lao động và người lao động. Vì vậy, Chính phủ đề nghị cho tiếp tục nghiên cứu, trước mắt chưa đưa vào dự thảo Luật lần này.

Thẩm tra dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề của xã hội của Quốc hội Trương Thị Mai cho rằng, việc sửa đổi Bộ luật Lao động cần phải tiếp tục quan tâm theo hướng xây dựng các tiêu chuẩn lao động phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các vấn đề về tiền lương và tiền lương tối thiểu; thời giờ làm việc, nghỉ ngơi; an toàn lao động, vệ sinh lao động. Trong đó, phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề tiền lương theo quan điểm là giá cả sức lao động, được hình thành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Vai trò của Nhà nước phải được thể hiện thông qua việc đưa ra các quy định nhằm hỗ trợ cho tiền lương được thực hiện hợp lý, bình đẳng và công bằng; định kỳ công bố tiền lương tối thiểu nhằm xây dựng mức sàn tối thiểu bền vững để bảo vệ cho nhóm lao động yếu thế, dễ bị tổn thương. Trong điều kiện hiện tại, cần quy định mức lương tối thiểu vùng nhưng trong tương lai khi nhóm lao động có tay nghề tăng lên, nên hướng đến việc chỉ công bố mức lương tối thiểu đối với nhóm ngành, nghề mà người lao động có khả năng rơi vào tình trạng yếu thế, hạn chế tối đa việc người sử dụng lao động lợi dụng lương tối thiểu như là lương tham chiếu để chi trả tiền lương không hợp lý.

Về hợp đồng lao động, việc dự án Bộ luật quy định bỏ giới hạn trần trong loại hợp đồng xác định thời hạn và bổ sung quy định bắt buộc người sử dụng phải ký hợp đồng không xác định thời hạn đối với người lao động có thời gian làm việc liên tục từ 10 năm trở lên nhằm hạn chế tác động tiêu cực của việc bỏ mức trần 36 tháng là chưa hợp lý. Ủy ban cho rằng, vẫn cần phải xác định mức trần thời gian đối với loại hợp đồng này để hạn chế khả năng người sử dụng lao động lợi dụng, vi phạm quyền lợi hợp pháp của người lao động, nhất là đối với nhóm lao động giản đơn, làm việc ở các ngành, nghề yếu thế. Ngoài ra, cần sửa đổi quy định về hợp đồng lao động vô hiệu để bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Về thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ, theo Uỷ ban, xu hướng tăng thời gian nghỉ thai sản cho lao động nữ từ 4 lên 6 tháng là quy định tiến bộ, hướng đến mục tiêu là bảo vệ thế hệ tương lai và chất lượng giống nòi. Trong điều kiện hiện nay, nếu thời gian nghỉ thai sản là 6 tháng, theo tính toán của cơ quan Bảo hiểm xã hội, Quỹ BHXH có thể cân đối được, song phải quan tâm đến các yếu tố khác như: tác động đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (nhất là các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ) để hài hòa lợi ích của cả hai bên, tác động đối với các nhóm phụ nữ làm công việc khác nhau và tác động chung đối với phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. Do vậy, nên quy định linh hoạt vấn đề này để phù hợp với điều kiện sống và các nhóm công việc khác nhau, bằng việc đưa ra mức sàn tối thiểu, có thể là 4 tháng và cho phép thời gian nghỉ thai sản tối đa là 6 tháng. Trên cơ sở đó, tùy theo điều kiện mà lao động nữ có quyền lựa chọn, quyết định thời gian nghỉ từ 4 tháng đến 6 tháng phù hợp với công việc, cuộc sống của mình.

Về tính khả thi, dự thảo Bộ luật có 60 điều cần phải hướng dẫn thi hành, trong đó có 27 điều, khoản quy định do Chính phủ hướng dẫn hoặc Chính phủ quy định và 20 điều, khoản thực hiện theo quy định của pháp luật… Vì vậy, Ban soạn thảo cần tiếp tục rà soát, đánh giá các quy định hiện hành, bổ sung các quy định mới phù hợp với thực tiễn và cụ thể hóa các điều, khoản trong dự thảo Bộ luật, đặc biệt là tính khả thi của một số quy định, cần hướng tới các chính sách sửa đổi phải mang lại lợi ích thực sự cho người lao động, cho các bên trong quan hệ lao động và bảo đảm Bộ luật Lao động thực sự đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội…